Paxuho

Có một miền minh triết nhưng rất xa...!

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Bài viết cũ 3, PXH

Saturday, November 19, 2011, 7:56:18 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article

Mạn đàm về giải phóng phụ nữ

(Cám ơn N.H.Quỳnh đã cho tôi một ý tưởng để viết bài này)
Chủ nhật, nhắn tin hỏi thăm người bạn cũ học cấp III, lâu ngày mới có dịp liên lạc, cuối tuần có rãnh rỗi và có gì vui không. Bạn nói: ngày nghỉ cánh con gái bọn tớ có nhiều việc phải làm lắm chứ vui vẻ nỗi gì. Nhìn từ vợ tôi, chủ nhật cũng bận bịu công việc. Đôi khi cũng sốt ruột vì không có nhiều thời gian cho con cái và gia đình. Tôi bảo, em làm vừa thôi, vợ lại nói: không làm lấy gì mà nuôi con. Bạn vợ tôi cũng thế, chồng mãi mê cho sự nghiệp khoa học, vợ năng động tháo vát, có những khi làm sổ sách tới 2h sáng, người gầy rạc đi. Quả thực, phụ nữ không giản đơn như đàn ông. Công việc bù đầu. Gia đình và con cái. Đàn ông làm viên chức như cánh tôi, chỉ biết thương vợ mà chẳng giúp được nhiều. Bởi thời tuổi trẻ, ai ai cũng có công việc riêng của mình, lo được thân mình là tốt rồi, thu nhập chẳng bao lăm, chẳng phải ai cũng đủ tài giỏi để có thể thuê ôsin để đỡ đần vợ, mà ôsin thì cũng chẳng làm thay vợ mình được những việc gần như đã thuộc về thiên chức phụ nữ chăm con,
Thế mới biết, sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một sự nghiệp chẳng dễ dàng gì. Thế mới hay nhân loại lâu nay, tôn vinh và ngợi ca phụ nữ là hoàn toàn xứng đáng.


Lâu nay, đàn ông có thói quen tâm lý, cứ nghĩ mình là phái mạnh, mình làm toàn những việc to tát, còn phụ nữ là phái yếu, thì phải bếp núc, nữ công gia chánh. Nên sau công việc chính là đàn ông có thể đàn đúm, giao du, bù khú, thể thao. Còn phụ nữ thì chăm chắm về, lo toan bếp núc, gia đình. Để có được sự tự do ấy, đàn ông phải có bàn tay hữu hình lo toan gia đình mình là những người phụ nữ. Chẳng ngoa, đằng sau một người đàn ông thành đạt, có một bóng hồng đảm đang, tháo vát!
Lâu nay đàn ông nghĩ mình đang đứng trên ở những đỉnh cao về mọi phương diện, thì xin thưa, phụ nữ là bệ đỡ và là người bạn đồng hành.
Đàn ông luôn giành thế thượng phong, phụ nữ thường khiêm nhường đứng sau lưng họ, vì thế mà đàn ông luôn tự hào và tự tôn về giá trị của họ. Còn điều tự hào của phụ nữ tự hào và hạnh phúc là giúp chồng vẻ vang, thành đạt, nuôi con khôn lớn, thành tài.
Đàn ông đôi khi biết rằng, phụ nữ là đối tác nhưng đàn ông quen thói chinh phục và ngự trị nên khi phụ nữ hơn họ về những phương diện nào đó thì họ tỏ ra mất tự tin và đôi khi chính mất tự tin ấy mà họ tổn thương. Ví như trong thời đại mới, người phụ nữ rất tự chủ về tài chính và có khả năng làm ra nhiều tiền, nhiều người đàn ông tỏ ra ghen tị, thậm chí ấm ức sinh ra thói ích kỷ và gia trưởng. Đó là một trạng thái tâm lý mới rất thực. Cần phải rũ bỏ. Hoặc, một người phụ nữ quảng giao thành đạt về mặt xã hội, nhiều đàn ông ích kỷ, sinh ra nghĩ ngợi.v.v.
Lâu nay, người ta nói về bất bình đẳng giới và đòi hỏi xã hội phải giải phóng phụ nữ. Bởi từ lâu, phụ nữ đã chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh hơn nam giới. Nhưng phụ nữ chịu đựng hơn, nhận nhịn hơn và phụ nữ thành ra cũng tự ti mặc cảm hơn. Nên sức ỳ của sự giải phóng vẫn còn đó.
Trong thời đại ngày nay, nhận thức về vai trò của vị trí con người đã trở nên khác xưa. Đàn ông và phụ nữ đều là con người, đều là những nhân cách đáng trọng. Với tư cách là một công dân, họ đều bình đẳng trước pháp luật. Với tư cách là một động vật – người, họ đều có nhân quyền, một trong những quyền đó là quyền tự do hành động. Và với tư cách là một cá thể của xã hội công dân, họ có nhu cầu được tôn trọng, được làm chủ.
Thời đại học, thầy tôi, tiến sĩ Mỹ Phạm Thế Hùng, khi dạy chúng tôi có dẫn một câu ngạn ngữ của Pháp “Vợ chồng trọng nhau như khách” và tôi cũng đọc được câu này trong cái triết lý ứng xử của người Trung Quốc hiện đại “phu phụ tương kính như tân”. Hai câu nói ở hai nền văn hóa về ứng xử gia đình, quan hệ vợ chồng, đều đề cao sự tôn trọng. Suy rộng ra, về phương diện quan hệ giữa hai giới nam nữ, có lẽ cũng không nằm ngoài hai chữ tôn trọng. Có tôn trọng, trân trọng nhau, mới biết hành động chừng mực và có văn hóa. Nếu không có sự trân trọng sẽ đứng xô lệch và nhìn thiên kiến, khó có thể có sự cảm thông và chia sẻ hạnh phúc.
Viết đến đây, tôi lại nghĩ hạnh phúc về một phương diện nào đó là sự sẻ chia, vì không có sẻ chia sẻ không có vun đắp, chẳng có lâu đài hạnh phúc nào xây nên từ sự ích kỷ. Chỉ lo đến bản thân mình mà không sẻ chia, hạnh phúc chỉ là hạnh phúc không trọn vẹn.
Không còn nghi ngờ gì nữa, từ khi phụ nữ Chicagô đứng lên đòi bình quyền, thì giải phóng phụ nữ là một sự nghiệp của nhân loại, đã làm, đang làm và còn phải làm. Tôi đồng tình với một quan điểm triết học từ Tây phương: sự nghiệp giải phóng phụ nữ là thước đo nền văn minh của một quốc gia.
Trong một chuyên đề giảng trước sinh viên về hôn nhân và gia đình, tôi thường hỏi các em rằng, vì sao chúng ta lại đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, vì sao không phải là nam giới. Và tôi đã nêu lên mấy khía cạnh về giải phóng phụ nữ:
- Giải phóng phụ nữ khỏi những thành kiến định kiến lâu nay về bất bình đẳng nam nữ; khỏi những nạn với phụ nữ như bạo hành…
- Giải phóng phụ nữ khỏi những công việc nội trợ, gia đình…choán hết thời gian công sức của phụ nữ;
- Giải phóng phụ nữ là để họ tự chủ gánh lấy những trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, tùy theo khả năng và sức lực của mình.
- Giải phóng phụ nữ cần có một cơ chế bình đẳng về cơ hội trong mọi phương diện.
Và tôi cũng cho rằng, để giải phóng hiện trạng phải bắt đầu từ sự giải phóng trong nhận thức về hiện trạng, đó kỳ thực là quan điểm của chủ nghĩa Mác chứ không của cá nhân tôi. Vì vậy, với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, trước hết, phải xóa bỏ những thành kiến, định kiến về phụ nữ, nhìn nhận mối quan hệ nam nữ một cách bình đẳng. Để giải phóng, phụ nữ về phương diện hành động, trước hết, theo tôi, cần phải giải phóng khỏi sự đè lấp bởi công việc. Sự rảnh rang về thời gian là cơ hội để họ tự giải phóng mình.
Đã lâu, tôi có đọc được trên báo, một nhà báo nước ngoài phỏng vấn một người có trọng trách ở hội phụ nữ Việt Nam mà tôi không nhớ chính xác tên, rằng trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, các chị đặt các ông năm giới ở đâu. Bà thưa rằng, cùng một chiến tuyến.
Vâng, có lẽ là vậy, giải phóng phụ nữ không phải là đối lập phụ nữ với nam giới mà là thuyết phục và kêu gọi nam giới chung tay gắng sức cùng phụ nữ. Trong mọi trận tuyến họ đều có nhau và sống chết vì nhau.
Kết thúc bài viết này, cho phép tôi nên lên một nhận thức rằng, e đã cũ nhưng tôi tin là nó vấn còn tính thời sự đối với nhiều người, rằng: Phụ nữ là một nửa thế giới, phụ nữ vừa là hậu phương và cũng là người ra trận, một người cùng ở chiến tuyến xây nên vinh quang và hạnh phúc của mọi xã hội, trong mọi thời đại./.
Hà Nội, 29/3/2010

HOÀI NIỆM BẠN CŨ

Saturday, November 19, 2011, 7:54:51 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Sáng qua, đang chuẩn bị đồ đạc đi công tác thì bất ngờ nhận được điện thoại của Kim Oanh, lớp trưởng lớp cấp III. Đã hơn chục năm rồi mới có một sự kết nối bè bạn. Cuộc điện thoại với Oanh làm mình gợi nhớ về bạn bè cùng lớp học ngày đó, mình quyết định phải có thêm những cuộc kết nối. Qua KO, mình có thêm số điện thoại của Quỳnh, cũng một người bạn gái thân quý trong lớp cũ. Quả thực nghe giọng O va Q, bình thường mình không thể nhận ra các bạn qua giọng nói. Ngày ấy, các bạn là thiếu nữ xuân thì, còn bây giờ tất cả đã có gia đình, đã một vài đứa con. Chất giọng Nghệ trầm lắng hơn, già dặn lên theo năm tháng. Rất vui khi nghe các bạn, nghe rồi từ từ nhận ra chất giọng ngày xưa và vụt hiện lên trong tâm trí mình những tri giác về các bạn mình.

O và Q đều dong dỏng cao. O thì mảnh mai, còn Q thì chắc chắn hơn. Cả O và Q đều sôi nổi với bạn bè, mỗi người một vẻ nhưng đều sống có nội tâm sâu sắc. O từng là lớp trưởng, từng ngồi cùng bàn. Hoạt động các phong trào, còn Q thì chăm học và trầm hơn, khi cười để lộ ra chiếc răng khểnh, mà khỏi phải nói răng khểnh thì thường có duyên. Một thứ duyên vừa lộ vừa ngầm. Cả hai đều là dân thị xã ngày ấy. Mình là học sinh ở huyện lên. Có chút tự ti nhất định, nên cũng ít có điều kiện gặp gỡ gắn bó. Với O, nhớ nhất là một lần sinh nhật Oanh năm lớp 10, mình và các bạn có chúc mừng vào một buổi tối. Đó là lần đầu tiên mình tham dự một sinh nhật và hiểu thế nào là sinh nhật. Quỳnh nhà gần trường, có nhiều lần giúp mình trực nhật lớp và quan tâm đến mình trong học tập cũng như trong cuộc sống. Nhớ lúc mình đang học ĐH năm thứ 2, Bố mình mất, Quỳnh và một nhóm bạn thị xã có đến đưa tang chia buồn. Và thời đi học Đại học, mình và Thắng thi thoảng có ghé thăm Q. Và lần gặp cuối cùng là hè năm thứ II, đại học. Lần đó, Quỳnh và hình như có một người bạn nữ nữa tới thăm mình. Mình nhớ câu thơ Q ghi tặng mình trong một cuốn sổ tay, nét chữ rắn rõi, chân phương như con người của Q. Thế rồi từ đó bặt tin nhau.
Năm 2006, mình có viết một bài đăng trong cuốn: 60 năm trường Phan Đình Phùng, một chặng đường, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2006, nhân dịp kỷ niệm thành lập trường cấp III, mình có nhắc đến tên nhiều bạn cũ thân quý trong lớp. Sau lần đó, nhiều lần mình rất muốn kết nối với các bạn, nhưng bạn bè mỗi người một ngả không phải ai cũng nắm được thông tin về nhau, không phải ai cũng thân quý với người này như người kia… và mãi với công việc, học tập mình chưa liên lạc với các bạn. Mấy lần bảo Thắng, tra số nhưng Thắng cũng không làm được.
Lại nói về Thắng, Thắng là người bạn thân quý nhất của mình trong lớp học thời cấp III. Hai đứa có những khó khăn về hoàn cảnh sống, thân quý nhau, có những chia sẽ trong học tập và cuộc sống. Mãi mãi mình nhớ và ghi ơn gia đình Thắng. Bố mẹ cậu là những người tốt, giàu lòng nhân ái. Chỉ buồn khi Thắng đi học thì Mẹ cậu mất, cũng như mình, có lẽ đó là nỗi buồn đau đầu đời mà Thắng phải gánh chịu. Thắng là người có ý chí, sống nhiệt tình với bạn bè. Quyết tâm ôn thi lại, đỗ và lập nghiệp ở tận xứ sương mù Đà Lạt. Chỉ tiếc lần đi ĐL hè năm 2007, không có cách nào để liên lạc với Thắng gặp nhau trên xứ sở Cao Nguyên. Tết 2009 trước lúc lên xe, mình và Thắng có hẹn gặp nhau ở quán Cafe Hồ Bưu điện, nói dăm ba câu chuyện, chụp với nhau một tấm hình. Chân tình và quyến luyến. Thắng phát tướng trông thấy và mình thường nói đùa là trông ông giống như một giáo sư Nhật Bản. Từ đó, hai thằng mới liên lạc với nhau nhiều hơn. Tết 2010 vì lý do mất danh bạ, sự liên lạc có gián đoạn. Sau buổi tối nói chuyện với O và Q qua điện thoại, mình quyết định tìm lại cuốn sổ ghi chép cũ và liên lạc với ông bạn để chia sẽ khi trời đã chuyển sang đêm.
Thế đấy, bạn bè xưa cũ thân quý nhau xa nhau thường có nhu cầu liên lạc hoặc mạnh hoặc yếu, thế nào cũng có lúc. Mai cũng thế. Với Mai, mấy lần xin số định liên lạc thì Mai lại điện cho mình. Nói chuyện với nhau có đến hàng chục phút. Mai ngày xưa xinh đẹp nhưng trầm tĩnh, ít nói, vì thế bạn không nổi bật. Mình với Mai học với nhau thì ngày cấp I, II, đến cấp III học cùng lớp. Mai thường ngồi cuối lớp và mình thường ở trọ lại gần trường nên tụi mình ít nói chuyện với nhau. Rời cấp III, Mai học sư phạm Vinh, mình học tận Hà Nội. Hè và tết có đôi lần gặp nhau. Ra trường mình ở lại Bắc, Mai lấy chồng vào Nam, bẵng đi mười năm mới có một sự kết nối.
Nãy giờ, mình đang nói về những sự gắn kết lại những người bạn lớp cấp III, còn những bạn bè khác, những quan hệ học tập khác, cũng có liên lạc, ít nhiều tùy từng trường hợp.
Khi đi làm người ta có xu hướng gắn kết nhiều với đồng nghiệp, với những quan hệ có lợi cho mình, nhưng chắc ít ai quên cái thuở, cái thời xưa cũ ấy và cũng không nên quên vì đó là một phần hồn của mình. Có lúc, kỷ niệm chực sống dậy làm mát ngọt hồn ta. Việc liên lạc với O, Q làm mình nhớ đến một bài thơ mình đã sáng tác, nói về cái quan niệm nhân sinh ấy.
TRONG NHỊP THỜI GIAN
“Hoa quỳnh vẫn nở về đêm
Hương quỳnh vẫn ngát bên thềm nhân gian
Đất trời vũ trụ tuần hoàn
Ta đi trong nhịp miên man con người
Trải cùng dài rộng nước non
Ngoảnh đi ngoảnh lại vẫn còn mê say
Tháng năm tươi mới hôm nay
Vẫn nguyên ký ức về ngày hôm qua
Xa rồi chưa hẳn đã xa
Lẩn lút kỷ niệm trong ta bà khói sương
Hạnh phúc trong cõi vô thường
Một trời thương mến vấn vương tâm hồn
Quê hương gốc rễ cội nguồn
Bạn bè cái thuở lưu khuôn mặt mình
Mãi mê trong cõi nhân sinh
Lòng xin tâm niệm ân tình sâu xa
Để khi ta với mình ta
Vẫn không đơn lẻ lạ xa con người”
(Hà Nội, Xuân 2010)
Những dòng trên đây là chút hoài niệm quá khứ trong một sáng đi công tác xa, sẽ là chưa thể đủ đầy để ”ôn cố”. Nhưng quả thực, trong ồn ã của cuộc sống hôm nay, mình vẫn đang sống với ngày hôm qua, với kỷ niệm. Đó là một trạng thái tâm lý rất thực, rất đời của con người. Với mình, những bạn bè đã gọi là thân quý, dù ở góc bể chân trời nào, mình vẫn nhớ. Hẳn là như thế!
Đoan Hùng, 6 sáng, 19/03/2010

Sinh viên cần trang bị cho mình một phông văn hoá vững chắc- BV ĐÃ ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN TAP CHÍ THANH NIÊN

Saturday, November 19, 2011, 7:51:42 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
 Sinh viên cần trang bị cho mình một phông văn hoá vững chắc Phạm Thạch Hoàng Sinh viên được xem là tinh hoa của xã hội, thuộc tầng lớp trí thức mà đặc điểm của trí thức là lao động trí tuệ cá nhân, làm việc độc lập và không ngừng sáng tạo, gắn với tư liệu sản xuất đặc thù nhất là tri thức. Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới, thế giới là vô tận vì thế nhận thức của con người là một quá trình không có điểm dừng. Mấy ai trong chúng ta đã hiểu đầy đủ, toàn vẹn và đúng đắn về thế giới rộng lớn?
Ấy thế mà nhiều sinh viên của chúng ta vẫn vỗ ngực tự hào là hiểu biết, là giỏi dang hoặc chỉ học chuyên môn trong giáo trình là đủ vì thế mà thiếu đi một văn hoá đọc, học hỏi hiểu biết thêm, hệ quả là sự hiểu biết rất hạn hẹp, nông cạn nói cách khác là chưa có được một phông văn hoá cần thiết. Văn hoá là một phạm trù rộng, cho đến nay mọi người về cơ bản tán thành với nhau định nghĩa về văn hoá của UNESCO rằng: văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, do con người và loài người sáng tạo ra trong lịch sử. Theo đó, văn hoá chỉ là một khái niệm có tính chất định tính nhưng có ngoại diên rộng bao trùm những giá trị thuộc về vật thể (tangible) và phi vật thể (intangible). Học tập là thâu nhận văn hoá, là tiếp thụ các giá trị và biến những giá trị đó toả sáng trong cuộc sống. Giá trị là nói đến khía cạnh tích cực, khía cạnh chính diện của sự vật mà chúng ta vẫn thường thâu tóm lại bằng cụm từ “chân- thiện – mỹ”. Chân là giá trị của khoa học, thiện là giá trị đạo đức, mỹ là giá trị của nghệ thuật. Đối với sinh viên, lao động trí tuệ là chính lẽ đương nhiên sẽ quan tâm nhiều đến giá trị chân, tức là tri thức đúng đắn, song không thể vì thế mà thờ ơ với các giá trị khác, trong khi sự phát triển và tiến bộ của bản thân và xã hội chỉ có được trên cơ sở sự hoà hợp của ba yếu tố đó. Học tập cũng là một dạng hoạt động vật chất có tính mục đích, lịch sử xã hội, khó có thể đạt tới giá trị của riêng mình nếu thiếu đi phông văn hoá. Phông văn hoá (có thể hiểu là những tri thức văn hoá cơ bản và cốt lõi) là cơ sở để con người tiếp nhận và sáng tạo văn hoá. Nếu bạn không có một phông văn hoá khoa học thường thức thì bạn không thể tiến lên những khám phá khoa học có giá trị hơn. Nếu bạn không có quan niệm đúng đắn về giá trị đạo đức cơ bản của con người khó có thể nói đến ý thức công dân, trách nhiệm xã hội, bạn sẽ dễ lệch hướng trong hoạt động xã hội những hành vi của bạn sẽ không có lợi cho xã hội, trái lại, có khi mang đến tai hoạ cho người khác. Nếu bạn thiếu đi phông văn hoá thẫm mỹ bạn sẽ là con người quá ư đơn giản, khó cảm nhận được những vẻ đẹp của cuộc sống của nghệ thuật để làm cuộc sống của mình giàu có, phong phú hơn lên. Học vấn chỉ là một lát cắt văn hoá, học vấn là cái cốt lõi của văn hoá. Song, xung học vấn còn là văn hoá ứng xử, văn hoá con người. Nếu bạn chỉ chú trọng vào học tập trang bị tri thức khoa học mà không có phông văn hoá giao tiếp ứng xử, vốn sống, sự hiểu biết cần thiết ở những lĩnh vực khác, bạn sẽ rất khó hoà nhập với xã hội, trở thành người thành đạt được xã hội trân trọng. Do vậy, trong học tập, mỗi người sinh, thanh niên hãy cố gắng trở thành những chuyên gia, tức có tri thức sâu sắc, am hiểu và có khả năng giải quyết những công việc chuyên môn của mình, nhưng cũng cần có văn hoá rộng để cư xử với mọi người, mọi việc. Trong thực tế, có chuyện nhiều bạn sinh viên mù tịt về những kiến thức lịch sử, địa lý – nhận văn, văn hoá vùng – miền, tâm lý dân tộc, những vấn đề xã hội. Vì sao vậy? cũng không phải do các bạn dốt mà do không quan tâm, không chú tâm, không thấy được tầm quan trọng của những tri thứ đó, làm cho nhiều bạn trở thành những người ngờ nghệch, gây nên những câu chuyện buồn cười, phản cảm. Điều này có thể thấy khi chúng ta xem các chương trình vui chơi giải trí trên ti vi. Nhiều người nguỵ biện, giải trí miễn vui là được cần gì phải chuẩn. Nên biết rằng, vui chơi giải trí nào thì cũng phải có hàm lượng trí tụê, như thế mới là vui chơi giải trí của con người, mang tính người. Ngạn ngữ có câu rằng, càng học càng thấy dốt, câu đó tưởng chừng như phi lí, ở chổ tại sao càng học càng dốt, học càng dốt thì học để làm gì? nhưng không nó hoàn toàn có lý. Học là quá trình khám phá thế giới, sự hiểu biết của con người càng được mở ra thì thấy thế giới càng vô tận và ngay bản thân những điều chúng ta tưởng chừng như đã biết thì càng đi sâu vào vấn đề đó, chúng ta càng thấy hiểu biết ta là nông cạn. Bởi vậy, chừng nào các bạn thấy mình còn non kém thì chừng đó bạn sẽ có cơ hội tiến bộ, còn chừng nào thấy mình đã đủ thì tức làn bạn đã khép lại cánh cổng tri thức tuôn chảy về phía bạn. Một người muốn trở thành một học giả không phải đơn giản, không phải chỉ có trí thông minh thôi đâu mà đó là một quá trình công phu tích luỹ tri thức, không học hỏi, ngừng mài sắc trí tuệ và thúc đẩy sáng tạo. Những người thành đạt và hiểu biết đều thừa nhận điều đó. Câu chuyện về Đácuyn. Khi con trai nhà khoa học thấy cha vẫn miệt mài làm việc, liền hỏi: cha đã là bác học sao vẫn còn học. Đácuyn đáp: bác học không có nghĩa là ngừng học. Đácuyn nổi tiếng bởi thuyết tiến hoá, nhưng ông cũng đã nổi tiếng với tinh thần học tập và làm việc hăng say. Đó là một quan hệ nhân quả tốt đẹp. Còn bạn bạn tự thấy mình biết được bao nhiêu, phải chăng như thế là đã đủ? Ngồi trên ghế giảng đường có thiếu thốn về vật chất thật đấy, dòng chảy cuộc sống cứ tuôn đi với nhiều cám dỗ hối thúc bạn thì bạn cũng phải luôn ý thức tĩnh tâm để thâu nhận văn hoá, tạo lập cho mình một phông văn hoá rộng và chuyên môn sâu để thành đạt và trở thành trí thức chân chính theo đúng nghĩa của nó. Sinh viên Việt Nam chúng ta hãy tự nhận thấy mình chưa là gì so với xã hội, với thế giới rộng lớn để mà khiêm tốn học hỏi, để cố gắng nhiều hơn nữa, thành danh và thành tài đích thực

Bài viết cũ 2, PXH

Saturday, November 19, 2011, 7:50:30 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article

Từ ngôi làng Việt đến Làng toàn cầu [Văn Nghệ, số 24, 11-6-2005]

Ngày nay, người ta đã nói nhiều đến Làng toàn cầu a global village để hình dung thế giới như chẳng khác gì một ngôi làng, trong đó mọi người cùng chung sống. Có lẽ đó chỉ là một cách nói hình ảnh và ẩn dụ về sự liên kết thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá. Phải chăng trong tương lai mọi người không còn sự cách biệt về hàng rào địa lý và như thế sẽ không còn một ngôi làng cụ thể để gắn bó và yêu mến? Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học, của công nghệ thông tin như hiện nay thì ở trong ngôi làng của mình người nông dân Việt Nam có thể chứng kiến bao sự biến động diễn ra khắp mọi nơi. Người nông dân Việt Nam đã băng qua luỹ tre làng tiến vào những khu công nghiệp khắp nơi trên thế giới. Người ta nói nhiều về ngôi làng thế giới và xem xem ở đó mình sẽ có chỗ đứng như thế nào, ai ai cũng sợ chậm chân trên chuyến tàu hành trình cùng thế giới.

Việt Nam chúng ta trong lịch sử đã tạo dựng nên những ngôi làng, đó là sản phẩm của phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền tự cung, tự cấp, khép kín. Làng Việt được bao quanh bởi luỹ tre xanh, có khi nằm gần như biệt lập với những làng xung quanh. Ai muốn vào một làng nào đó thường phải đi qua cổng làng, nơi đó có cây đa toả bóng. Làng thường có đình làng để làm nơi hội họp bàn chuyện của làng. Làng là biểu hiện cụ thể của tính cố kết cộng đồng.Mất nước nhưng không mất làng. Các sử gia đã tổng kết, người Việt mất nước, chính từ làng mà người Việt lại đứng lên giành lại nước, đó cũng chính là sức sống lâu bền của mỗi làng quê Việt Nam. Song mặt trái của làng đó chính là tính địa phương chủ nghĩa, là khép kín, ít giao lưu với thế giới bên ngoài, là những tục lệ đôi khi rườm rà, tâm lý tiểu nông vụn vặt. Ngày nay những điều đó dường như còn đúng với một thế giới mà sự kiện của một vùng, một quốc gia đã trở thành vấn đề thời sự thường nhật của toàn cầu. Làng Việt đổi mới từng ngày.Làng cũng đã trở nên cởi mở hơn. Có điện làng trở thành một cơ thể đổi khác, đầy sức sống. Có điện làng được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, có thể nghe bằng tai, xem bằng mắt cứ như đang diễn ra trước mắt mình. Từ ngôi làng nhỏ bé của mình, người dân có thể tiếp cận biết bao sự kiện của làng quê trên thế giới. Rồi những nhà cửa mái ngói, bê tông hoá, cả tường bao ngõ xóm đã xoá nhà đi vết tích cổ xưa nhà tranh, vách đất sân gạch, tường tre, đó là cả một sự đổi thay đáng mừng, biểu hiện một chất lượng cuộc sống không ngừng được nâng cao.
Cùng với sự phát triển nói chung của đất nước, làng Việt phải đi qua một giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn. Những công trình điện – đường- trường – trạm đã mang lại cho nông thôn Việt Nam một bộ mặt mới, sắc thái mới. Giờ đây những người nông dân, đặc biệt là lớp trẻ, ít ai nghĩ phải giam chân trong luỹ tre làng. Dường như có hai con đường để người nông dân vượt ra với thế giới rộng lớn. Một là, xuất khẩu hàng hoá.Những sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp được biết đến, sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài, sẽ có lợi lớn hơn. Hai là con đường đi xuất khẩu lao động. Người nông dân thông qua cơ hội đi xuất khẩu lao động mong được đổi đời. Nhưng tất cả cùng chẳng dễ dàng gì, đôi khi ngược lại với niềm mong đợi. Hội nhập với thế giới, mới thấy rằng “luật chơi”quả là khắc nghiệt, thương trường chèn ép, bảo hộ mậu dịch ràng buộc, bạn hàng cạnh tranh…xuất khẩu lao động mong được đổi đời thực tế bị đối xử, bóc lột, bị lừa lọc, bị đem con bỏ chợ, đôi khi chỉ mong lê được tấm thân về quê.
Xây dựng cơ sở hạ tầng của các công ty liên doanh làm cho những ngôi làng xưa bị biến thành công xưởng. Ao hồ, đình làng bị thu hẹp, mất không gian, cây đa, bến nước, sân đình bị lùi vào dĩ vãng, đất đai giờ đây được tận dụng để bán, để xây hàng quán, đất hương hoả của cha ông cũng bị thu hẹp dần. Dường như xã hội càng văn minh làng đã bị bỏ lại đằng sau và mất dần dấu vết hồn xưa. Nhiều người yêu làng bỗng nhận ra một thực tế xót xa là những con người làng xưa chân chất, đôn hậu, giờ đây đã tiêm nhiễm lối sống thực tế, đã xuất hiện ngày càng nhiều tệ nạn xã hội: mại dâm, nghiện hút, trộm cắp, du côn, người làng đâu còn giữ được lề xưa nếp cũ.Người ta bắt đầu vấn hỏi đó phải chăng là những gì ta đã mất đi khi hoà nhập với những gì khác ta! Và phải chăng đó là mặt trái của sự phát triển, được cái này chấp nhận mất cái kia. Có không ít người hoài cổ ngậm ngùi tiếc rẻ: làng xưa còn đâu!
Và những người con của làng đi tận cùng thế giới có mơ đến một ngôi làng Việt Nam bình yên trong làng toàn cầu.
______________________________________________
* Bài đã đăng trên Văn Nghệ trang 14, số 24 (11-6-2005)

Giữ lấy giá trị của tình yêu_ bài đã đăng trên tc Thanh niên, 2003

Saturday, November 19, 2011, 7:48:09 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Thế hệ @ là một từ mới phát sinh, chỉ những công dân sinh ra trong thời đại chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Con người mới, lối sống mới và tình yêu của họ đang đổi mới, song dù yêu thế nào thì họ cũng không thể vượt ra khỏi giá trị truyền thống vĩnh hằng không thể thay của tình yêu đó là hai chữ : yêu thương. Thời đại kỷ nguyên thông tin đang tạo ra những thế hệ công dân @. Điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập với muôn mặt trái đang có những tác động không nhỏ đến việc định hướng giá trị của thế hệ @. Những luồng tư tưởng, lối sống mới mang nặng màu sắc thực dụng và hưởng thụ đang gây ngiền thế hệ công dân mới này. Vì thế, tình yêu thời @ cũng mang sắc thái khác biệt so với các thế hệ trước đây.
Nhiều người, ngay các bạn trẻ cho rằng yêu bây giờ là phải thực tế, phải biết sống thức thời, biết cho và nhận một cách mạnh mẽ, nồng nhiệt. Tóm lại, là phải biết yêu một cách hiện đại hơn tình yêu truyền thống của các thế hệ trước. Có thể nói cường độ và tốc độ yêu thời @ cũng nhanh như bản thân sự biến đổi của công nghệ thông tin vậy. Chỉ cần lên mạng là cũng có thể tìm kiếm được tình yêu trong thời gian rất ngắn. Phong cách yêu, trao đổi tình cảm trở nên đa chiều, cởi mở và tự tin hơn. Dẫn chứng dễ thấy là, hằng ngày ra đường, vào trong các khuôn viên sẽ thấy các đôi tình nhân tự nhiên yêu nhau chẳng khác gì trong phim phương Tây. Họ yêu nhau đôi khi quên cả thế giới xung quanh, như là không gian ấy sinh ra là đẻ cho riêng họ. Trong sinh viên có tình yêu sống thử. ở các khu nhà trọ đang có hiện tượng vừa là nơi trọ học vừa là chốn vườn yêu. Hiện tượng đó, đang có xu hướng gia tăng, nhân lên theo kiển phong trào. Xã hội cùng nhìn nhận một thực tế: yêu là một chuyện, kết hôn là chuyện khác. Mẫu người yêu để đi đến hôn nhân bây giờ thường gắn với tiền đề vật chất(của cải, nhà đất, địa vị xã hội, thu nhập). Giờ đây, nhiều người ta cho rằng không có chuyện yêu thuần tuý, đẹp và lãng mạn như xưa mà yêu gắn liền với toan tính, so đo. Thực tế có đến mức bi quan như vậy không, cần chờ những sự biến đổi tiếp theo mới có thể kết luận được. Có điều, suy cho cùng, tình yêu cũng là một dạng quan hệ xã hội, một sản phẩm của xã hội, khi điều kiện xã hội(điều kiện sống- sinh hoạt vật chất và tinh thần thay đổi) thì quan hệ yêu đương cũng thay đổi theo. Song dù tình yêu có biến đổi đi chăng nữa, thì cũng phải dựa trên những hằng số cơ bản đó là sự yêu thương chân thành. Tách tiền đề tình yêu khỏi hôn nhân sẽ rất khó kiếm tìm hạnh phúc. Thủ hỏi cả xã hội ai cũng chạy theo thời, a dua theo thời, tình yêu “mì ăn liền” thì sẽ có hay không những tế bào xã hội lành mạnh đó là hạnh phúc gia đình bền vững?. Tuy nhiên, cũng cần công bằng nhận thấy rằng nhiều bạn trẻ bây giờ vẫn có bản lĩnh sống và yêu rất đẹp. Hõi các bạn trẻ thời @ thông minh, năng động. Tình yêu là một giá trị của hạnh phúc, do đó các bạn cần có ý thức về giá trị bản thân mình và định hướng giá trị hạnh phúc để sống và yêu một cách có ý nghĩa nhất, đừng học đòi, a dua, chạy theo thời thế đánh mất giá trị đẹp tuổi thanh xuân./.

Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta _

Saturday, November 19, 2011, 7:46:33 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Giảng đường đại học Việt Nam ngày càng đổi mới về cả nội dung chương trình học tập lẫn phương pháp sư phạm. Chương trình hiện đại hơn, được cập nhật những nội dung tiên tiến của thời đại. Phong cách sinh hoạt học thuật, cũng cởi mở dân chủ hơn. Đó là tín hiệu đáng mừng, song cũng vì thế đang đặt ra những điều cần bàn. Ngày nay sinh viên đến lớp rất đa dạng trong cách ăn mặc, từ quần áo, cặp sách, dày dép, đầu tóc. Giảng viên cũng không phải ai cũng chú ý đến những điểm đó như trước đây. Ngày nay sinh viên tự do yêu đương trong lớp học thậm chí ngồi cạnh nhau và tự do bày tỏ tình cảm công khai trước tập thê mà không mấy ngại ngùng. Ngày nay, sinh viên có thể ngồi và nói lên ý kiến của mình với giáo viên.
Ngày nay, sinh viên mạnh dạn vấn hỏi thầy giáo những vấn đề họ còn băn khoăn ngay trong lớp học, có sinh viên thậm chí cãi tay đôi với thầy. Sinh viên có tố giác những hành vi của thầy cô giáo một cách gay gắt và ngay tức thời… Những hiện tượng đó, một mặt nói lên không khí dân chủ cởi mở, nhưng qua đó cũng có những biểu hiện dân chủ một cách quá trớn, như hiện tượng sinh viên vô lễ không chào thầy giáo, ăn nói cộc lốc, ăn mặc lố lăng trong lớp học, yêu đương thiếu khiếm nhã, thậm chí đánh nhau trên giảng đưòng, tình trạng đi muộn, nghỉ học, xin ra ngoài một cách tuỳ tiện, nói chuyện hay làm việc riêng thiếu tôn trọng không khí chung. Nhiều thầy cô xem đó như là một sự đổi mới của lớp trẻ, dễ dàng chấp nhận không cho qua chuyện, cũng có thầy khắt khe thì nhắc nhở hay lên lớp cho một bài nếu thấy quá chướng tai gai mắt. Song theo quan điểm của nhiều thầy cô, cần phải cũng cố lại kỉ luật giảng đường. Cần phải nêu cao và thực hành tốt khẩu hiệu: Kỉ cương – tình thương – trách nhiệm. Khẩu hiện đó vẫn đặt yếu tố kỉ cương lên làm đầu. Dù thế nào thì kỉ cương, pháp chế vẫn phải được coi trọng. Có kỉ cương thì mới thực hiện ngiêm túc các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, mới phân vai một cách đúng mực: thầy ra thầy, trò ra trò được. Chúng tôi đồng ý với quan điểm đó và thấy rằng: Trong xã hội ta, đúng là dân chủ ngày càng mỏ rộng nhưng dân chủ không có nghĩa là tự do quá trớn, tự do vô chính phủ, làm việc sinh hoạt một cách tuỳ tiện, thiếu sư tôn trọng người khác. Dân chủ là để tăng cường sức mạnh của tập thể, là phải coi trọng tập thể. Chứ dân chủ không phải là đề cao cá nhân, và đặt ý muốn sở thích cá nhân lên trên những quy tắc tập thể. Giảng đường đại học lại là nơi đào luyện con người, nhưng công dân cho xã hội, nếu không làm tốt kỉ luật thì sẽ rất khó có được những công dân có ý thức trách nhiệm công dân cao, sống làm việc tuân thủ pháp luật được. Đơn cử, nếu trên giảng đường ta chấp nhận chuyện giờ giấc cao su, ra vào tuỳ tiện thì giảng đường cũng giống như một cái chợ, sinh viên buông lỏng ý thức tổ chức kỉ luật và tự giác. Sau này ra trường những công dân này rất khó bắt nhịp với tác phong công nghiệp đòi hỏi khoa học và chính xác cao. Trong học thuật được tự do trao đổi, có ý kiến nhưng phải có sự định hướng của thầy cô và phải thể hiện thiện sự vô tư lành mạnh chứ không theo kiểu lí sự cùn, cực đoan, võ đoán. Để làm được điều đó, chúng tôi cho rằng, mỗi thầy cô phải là một tấm gương về đạo đức nhân cách và lối sống. Trong thực tế, không ít thầy cô nhất là những thầy cô giáo trẻ có biểu hiện quá gần gũi với học sinh sinh viên, thiếu đi vẻ nghiêm túc trong uqan hệ thấy trofg, nói năng thiếu khiếm nhã , thậm chí có thầy đánh bài cùng sinh viên, uống rượu say cùng sinh viên… đó là những biểu hiện không đáng có, một sự tự do cởi mở không cần thiết thiếu đi sự tôn trọng của học sinh sinh viên với người thầy. Nếu giáo viên có những biêu hịệu như vậy, nhà quản lí cần phải có sự nhắc nhở, tập thể phải có ý kiến, có những hình thức kiểm điểm hoặc cao hơn là kỉ luật. Có như thế mới tạo ra một đội ngũ giáo viên có nhân cách trong sáng và lành mạnh. Ngày nay xã hội không thể chấp nhận hình ảnh một người giáo viên thụ động, áp đặt gia trưởng với sinh viên, hoặc có biểu hiện trù dập sinh viên. Ngược lại xã hội không chấp nhận hình ảnh một người thầy không nghiêm túc đứng đắn trong quan hệ với sinh viên. Hồ Chí Minh từng nói, đối với dân tộc Á Đông, mỗi tấm gương sống có giá trị gấp trăm lần bài diễn văn tuyên truyền. Thiết nghĩ câu đó phải trở thành định hướng phương châm hành động cho mỗi thầy cô, nhà giáo dục của chúng ta. Ở đây, những giáo viên lí luận chính trị, khoa học Mác – Lênin cần thể hiện và phát huy vai trò của mình. Giáo viên Mác Leenin muốn lôi kéo thu hút được sinh viên sống và làm theo những giá trị thì họ phải là người có tâm và có chuyên môn, nghệ thuật sư phạm. Giáo viên khoa học chính trị phải quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh sinh viên, bồi dưỡng nhân sinh quan lành mạnh. bản lĩnh chính trị vững vàng, rèn luyện ý thức công dân, tác phong kỷ luật, tính tự giác, tự chủ trong học tập và hành động của sinh viên. Đó là sứ mệnh của giáo viên khoa học Mác – Lênin nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung. Powered by Vnweblogs.comy 27 tháng 06, 2007 Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta_ đã đăng trên [link] Điểm Ngôi sao Blog: 0 (0 lượt) | Bình chọn: 6 điểm 5 điểm 4 điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta P.T.H Người TQ gần đây có câu: học thuật thì tự do nhưng giảng đường phải kỷ luật. Điều đó nói lên tính nghiêm minh coi trọng kỉ luật ở giảng đường trên đất nước trung quốc dẫu cho không khí học thuật ngày càng cởi mở hơn trước đây rất nhiều. Câu đó làm ta liên tưởng đến Việt Nam ta. Giảng đường đại học Việt Nam ngày càng đổi mới về cả nội dung chương trình học tập lẫn phương pháp sư phạm. Chương trình hiện đại hơn, được cập nhật những nội dung tiên tiến của thời đại. Phong cách sinh hoạt học thuật, cũng cởi mở dân chủ hơn. Đó là tín hiệu đáng mừng, song cũng vì thế đang đặt ra những điều cần bàn. Ngày nay sinh viên đến lớp rất đa dạng trong cách ăn mặc, từ quần áo, cặp sách, dày dép, đầu tóc. Giảng viên cũng không phải ai cũng chú ý đến những điểm đó như trước đây. Ngày nay sinh viên tự do yêu đương trong lớp học thậm chí ngồi cạnh nhau và tự do bày tỏ tình cảm công khai trước tập thê mà không mấy ngại ngùng. Ngày nay, sinh viên có thể ngồi và nói lên ý kiến của mình với giáo viên. Ngày nay, sinh viên mạnh dạn vấn hỏi thầy giáo những vấn đề họ còn băn khoăn ngay trong lớp học, có sinh viên thậm chí cãi tay đôi với thầy. Sinh viên có tố giác những hành vi của thầy cô giáo một cách gay gắt và ngay tức thời… Những hiện tượng đó, một mặt nói lên không khí dân chủ cởi mở, nhưng qua đó cũng có những biểu hiện dân chủ một cách quá trớn, như hiện tượng sinh viên vô lễ không chào thầy giáo, ăn nói cộc lốc, ăn mặc lố lăng trong lớp học, yêu đương thiếu khiếm nhã, thậm chí đánh nhau trên giảng đưòng, tình trạng đi muộn, nghỉ học, xin ra ngoài một cách tuỳ tiện, nói chuyện hay làm việc riêng thiếu tôn trọng không khí chung. Nhiều thầy cô xem đó như là một sự đổi mới của lớp trẻ, dễ dàng chấp nhận không cho qua chuyện, cũng có thầy khắt khe thì nhắc nhở hay lên lớp cho một bài nếu thấy quá chướng tai gai mắt. Song theo quan điểm của nhiều thầy cô, cần phải cũng cố lại kỉ luật giảng đường. Cần phải nêu cao và thực hành tốt khẩu hiệu: Kỉ cương – tình thương – trách nhiệm. Khẩu hiện đó vẫn đặt yếu tố kỉ cương lên làm đầu. Dù thế nào thì kỉ cương, pháp chế vẫn phải được coi trọng. Có kỉ cương thì mới thực hiện ngiêm túc các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, mới phân vai một cách đúng mực: thầy ra thầy, trò ra trò được. Chúng tôi đồng ý với quan điểm đó và thấy rằng: Trong xã hội ta, đúng là dân chủ ngày càng mỏ rộng nhưng dân chủ không có nghĩa là tự do quá trớn, tự do vô chính phủ, làm việc sinh hoạt một cách tuỳ tiện, thiếu sư tôn trọng người khác. Dân chủ là để tăng cường sức mạnh của tập thể, là phải coi trọng tập thể. Chứ dân chủ không phải là đề cao cá nhân, và đặt ý muốn sở thích cá nhân lên trên những quy tắc tập thể. Giảng đường đại học lại là nơi đào luyện con người, nhưng công dân cho xã hội, nếu không làm tốt kỉ luật thì sẽ rất khó có được những công dân có ý thức trách nhiệm công dân cao, sống làm việc tuân thủ pháp luật được. Đơn cử, nếu trên giảng đường ta chấp nhận chuyện giờ giấc cao su, ra vào tuỳ tiện thì giảng đường cũng giống như một cái chợ, sinh viên buông lỏng ý thức tổ chức kỉ luật và tự giác. Sau này ra trường những công dân này rất khó bắt nhịp với tác phong công nghiệp đòi hỏi khoa học và chính xác cao. Trong học thuật được tự do trao đổi, có ý kiến nhưng phải có sự định hướng của thầy cô và phải thể hiện thiện sự vô tư lành mạnh chứ không theo kiểu lí sự cùn, cực đoan, võ đoán. Để làm được điều đó, chúng tôi cho rằng, mỗi thầy cô phải là một tấm gương về đạo đức nhân cách và lối sống. Trong thực tế, không ít thầy cô nhất là những thầy cô giáo trẻ có biểu hiện quá gần gũi với học sinh sinh viên, thiếu đi vẻ nghiêm túc trong uqan hệ thấy trofg, nói năng thiếu khiếm nhã , thậm chí có thầy đánh bài cùng sinh viên, uống rượu say cùng sinh viên… đó là những biểu hiện không đáng có, một sự tự do cởi mở không cần thiết thiếu đi sự tôn trọng của học sinh sinh viên với người thầy. Nếu giáo viên có những biêu hịệu như vậy, nhà quản lí cần phải có sự nhắc nhở, tập thể phải có ý kiến, có những hình thức kiểm điểm hoặc cao hơn là kỉ luật. Có như thế mới tạo ra một đội ngũ giáo viên có nhân cách trong sáng và lành mạnh. Ngày nay xã hội không thể chấp nhận hình ảnh một người giáo viên thụ động, áp đặt gia trưởng với sinh viên, hoặc có biểu hiện trù dập sinh viên. Ngược lại xã hội không chấp nhận hình ảnh một người thầy không nghiêm túc đứng đắn trong quan hệ với sinh viên. Hồ Chí Minh từng nói, đối với dân tộc Á Đông, mỗi tấm gương sống có giá trị gấp trăm lần bài diễn văn tuyên truyền. Thiết nghĩ câu đó phải trở thành định hướng phương châm hành động cho mỗi thầy cô, nhà giáo dục của chúng ta. Ở đây, những giáo viên lí luận chính trị, khoa học Mác – Lênin cần thể hiện và phát huy vai trò của mình. Giáo viên Mác Leenin muốn lôi kéo thu hút được sinh viên sống và làm theo những giá trị thì họ phải là người có tâm và có chuyên môn, nghệ thuật sư phạm. Giáo viên khoa học chính trị phải quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh sinh viên, bồi dưỡng nhân sinh quan lành mạnh. bản lĩnh chính trị vững vàng, rèn luyện ý thức công dân, tác phong kỷ luật, tính tự giác, tự chủ trong học tập và hành động của sinh viên. Đó là sứ mệnh của giáo viên khoa học Mác – Lênin nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung

Nghề giáo: lương tâm và trách nhiệm_ ĐÃ ĐĂNG TRÊN ĐT ĐẢNG CỘNG SẢN, 11,2006

Saturday, November 19, 2011, 7:45:09 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Nghề giáo: lương tâm và trách nhiệm Nghề nghiệp nào cũng tạo ra giá trị riêng của nó và cũng cần đến những tiêu chuẩn riêng về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Song có lẽ nghề thầy lắm đòi hỏi và để thành đạt cần không ít những công phu. Thầy là để dạy người, giúp đời. Dạy thế nào, sống thế nào, để xứng đáng tư cách mô phạm một người thầy quả là không dễ, nhưng chắc hẳn không phải là việc quá khó không làm được.
Mỗi năm cứ đến ngày 20 tháng 11, là ngày hội của các thầy cô. Những học sinh, những bậc phụ huynh đến chúc mừng các nhà giáo. Trước những bông hoa tươi thắm, những món quà giàu ý nghĩa, những lời chúc mừng cao đẹp, ta mới thấy người thầy được tôn vinh, thấy được cái cao cả vẻ vang sau nhọc nhằn nghề nghiệp. Các thầy cô giáo đã làm gì và cần làm gì xứng với sự tôn vinh ấy! Có bao nhiêu người đã suy nghĩ về đạo đức nghề nghiệp, có bao người đã tri ân những tấm lòng của chính học sinh của mình. Bởi sự vẻ vang của mình chỉ có được khi những người học thành danh, thành tài, trở thành những công dân tốt của xã hội. Giáo dục đào tạo là chuyện muôn thuở, nó cần như cơm ăn, nước uống, như những nhu cầu thiết yếu khác của đời sống thường nhật. Nhưng giáo dục, đào tạo không thể là việc tầm thường, là việc thực hiện theo nghĩa vụ xong chuyện mà cần đến lương tâm, trách nhiệm, cần đến chuyên môn sâu. Bởi giáo dục đào tạo là phương thức đào luyện hiền tài mà, đúng như người xưa đã nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nó liên quan đến sự thịnh suy của một dân tộc, không thể xem thường. Song thực tế xã hội đang lên án giáo dục, đang mổ xẻ giáo dục để tìm những con sâu, tìm những vết đen cần tẩy rửa, tìm ra vi trùng làm băng hoại cơ thể giáo dục và cần đến những phương thuốc đặc trị vi trùng. Thầy cô giáo có phần trách nhiệm, xã hội có phần trách nhiệm. Căn bệnh thành tích, giáo dục ảo, chưa coi trọng thực chất; kinh tế thị trường đã làm nhiều thầy cô đánh mất lương tâm đạo đức, những chất xám trí tuệ của đất nước bị lãng quên hoặc chưa có cơ chế chính sách để phát huy đúng đắn. Gần đây báo chí đưa tin chuyện gian dối trong thi cử, chuyện chạy trường chạy điểm liên qua tới một số thầy cô giáo, làm xã hội hoang mang và bức xúc. Bắt đầu từ chuyện thi cử tốt nghiệp ở Hà Tây, cho đến chuyện thầy giáo ở trường CĐ Phát thanh – Truyền hình Hà Nam ép tình học sinh đổi điểm, chuyện trường chuyên Lê Quý Đôn của một thành phố lớn nhất của cả nước – TP. Hồ Chí Minh, ở đó giáo viên tốt thì bị trù dập, và lãnh đạo làm những việc trái với pháp luật…nhiều và nhiều những câu chuyện tiêu cực khác làm xã hội đang nóng lòng chờ đợi một sự đổi thay, một làn gió mới. Bộ trưỏng Bộ giáo dục mới Nguyễn Thiện Nhân được xem là một anh tài, vừa mới đảm nhận chức Bộ trưỏng đã được các bậc phụ huynh gửi gắm nhiều nổi niềm, chờ đợi một quyết sách sáng suốt, chờ đợi một con người có thể bằng cả đức lẫn tài thay đổi những căn bệnh trầm kha của giáo dục, giải quyết những vấn nạn đang đe doạ sự nghiệp trồng người. Cho đến thời điểm này, Bộ trưởng mới đã làm được nhiều điều, nhưng dẫu sao tất cả mới bắt đầu, nhân dân có sự tin tưởng nhưng cũng không ít hoài nghi, một sự nghiệp lớn như vậy, liên quan đến cả hệ thống, liệu bộ trưởng dám quyết và dám đi đến tận cùng của mọi vấn đề? Một tín hiệu mừng, Quốc hội đang quan tâm bàn bạc đến vấn đề tăng lương cho ngành giáo dục, theo đề nghị của nhiều người đó là một trong những vấn đề cần giải quyết trước mắt để đảm bảo cuộc sống cho hàng triệu giáo viên cả nước, như thế sẽ thay đổi được phần nào những tiêu cực trong giáo dục. Song đó chưa hẳn là tất cả của vấn đề, vấn đề vẫn là ở khâu đào tạo con người nhà giáo, nhà quản lí giáo dục sao cho thấm nhuần tinh thần giáo dục trong sạch, một nền giáo dục lấy chất lượng thực làm trọng chứ không phải là một nghề để trục lợi. Và nếu họ vi phạm cần có một chế tài xử lí thanh lọc thật hiệu quả. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nói: người giáo dục cũng cần phải được giáo dục. Điều này đáng để các thầy cô giáo, nhà quản lý giáo dục đào tạo của chúng ta suy nghĩ lắm chứ. Mọi hành động điều có luật nhân quả chi phối, nghĩa là gieo nhân sẽ phải gặt quả, nhân nào quả ấy hoặc là kết quả tốt đẹp hoặc là hậu quả. Chúng ta phải công tâm và sáng suốt nhìn nhận những yếu kém và đừng thổi phồng hoặc hạ thấp những nguyên cơ. Chúng ta phải có văn hoá chịu trách nhiệm. Trong thực tế, chúng ta thấy hễ có chuyện gì là ông này ông kia dù ở cấp nào cũng bao biện, cũng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, ít người có được sự dũng cảm trong nhìn nhận và giải quyết những vấn đề. Đó cũng là điều đáng buồn và đáng phê phán. Đã đến lúc giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến ý thức trách nhiệm của công dân. Dịp chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam năm nay đúng vào dịp mà cả nước đang bắt đầu dấy lên sự nghiệp chấn hưng giáo dục. “Nói không với tiêu cực” mong rằng không dừng lại ở khẩu hiệu mà là hành động, hành động với lương tâm và trách nhiệm cao nhất! Các thầy cô giáo, đã làm thầy cho hãy xứng danh thầy. Nêu cao hơn nữa lương tâm và trách nhiệm của mình, đừng a dua và đổ lỗi cho hoàn cảnh kinh tế thị trường. Lương tâm và phẩm cách của mỗi người phải tự mình rèn dũa và giữ lấy. Lương tâm của thầy giáo cô giáo, và những nhà giáo dục trước hết là ở chỗ, chấp hành pháp luật và ứng xử theo những quy phạm đạo đức nghề nghiệp, làm được cao hơn nữa là yêu nghề, yêu trò, sống không vụ lợi và luôn tâm nguyện trở thành một người thầy chân chính theo đúng nghĩa./. XM mùa thu 2006

Bài viết cũ 2, PXH

Saturday, November 19, 2011, 7:50:30 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article

Từ ngôi làng Việt đến Làng toàn cầu [Văn Nghệ, số 24, 11-6-2005]

Ngày nay, người ta đã nói nhiều đến Làng toàn cầu a global village để hình dung thế giới như chẳng khác gì một ngôi làng, trong đó mọi người cùng chung sống. Có lẽ đó chỉ là một cách nói hình ảnh và ẩn dụ về sự liên kết thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá. Phải chăng trong tương lai mọi người không còn sự cách biệt về hàng rào địa lý và như thế sẽ không còn một ngôi làng cụ thể để gắn bó và yêu mến? Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học, của công nghệ thông tin như hiện nay thì ở trong ngôi làng của mình người nông dân Việt Nam có thể chứng kiến bao sự biến động diễn ra khắp mọi nơi. Người nông dân Việt Nam đã băng qua luỹ tre làng tiến vào những khu công nghiệp khắp nơi trên thế giới. Người ta nói nhiều về ngôi làng thế giới và xem xem ở đó mình sẽ có chỗ đứng như thế nào, ai ai cũng sợ chậm chân trên chuyến tàu hành trình cùng thế giới.

Việt Nam chúng ta trong lịch sử đã tạo dựng nên những ngôi làng, đó là sản phẩm của phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền tự cung, tự cấp, khép kín. Làng Việt được bao quanh bởi luỹ tre xanh, có khi nằm gần như biệt lập với những làng xung quanh. Ai muốn vào một làng nào đó thường phải đi qua cổng làng, nơi đó có cây đa toả bóng. Làng thường có đình làng để làm nơi hội họp bàn chuyện của làng. Làng là biểu hiện cụ thể của tính cố kết cộng đồng.Mất nước nhưng không mất làng. Các sử gia đã tổng kết, người Việt mất nước, chính từ làng mà người Việt lại đứng lên giành lại nước, đó cũng chính là sức sống lâu bền của mỗi làng quê Việt Nam. Song mặt trái của làng đó chính là tính địa phương chủ nghĩa, là khép kín, ít giao lưu với thế giới bên ngoài, là những tục lệ đôi khi rườm rà, tâm lý tiểu nông vụn vặt. Ngày nay những điều đó dường như còn đúng với một thế giới mà sự kiện của một vùng, một quốc gia đã trở thành vấn đề thời sự thường nhật của toàn cầu. Làng Việt đổi mới từng ngày.Làng cũng đã trở nên cởi mở hơn. Có điện làng trở thành một cơ thể đổi khác, đầy sức sống. Có điện làng được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, có thể nghe bằng tai, xem bằng mắt cứ như đang diễn ra trước mắt mình. Từ ngôi làng nhỏ bé của mình, người dân có thể tiếp cận biết bao sự kiện của làng quê trên thế giới. Rồi những nhà cửa mái ngói, bê tông hoá, cả tường bao ngõ xóm đã xoá nhà đi vết tích cổ xưa nhà tranh, vách đất sân gạch, tường tre, đó là cả một sự đổi thay đáng mừng, biểu hiện một chất lượng cuộc sống không ngừng được nâng cao.
Cùng với sự phát triển nói chung của đất nước, làng Việt phải đi qua một giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn. Những công trình điện – đường- trường – trạm đã mang lại cho nông thôn Việt Nam một bộ mặt mới, sắc thái mới. Giờ đây những người nông dân, đặc biệt là lớp trẻ, ít ai nghĩ phải giam chân trong luỹ tre làng. Dường như có hai con đường để người nông dân vượt ra với thế giới rộng lớn. Một là, xuất khẩu hàng hoá.Những sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp được biết đến, sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài, sẽ có lợi lớn hơn. Hai là con đường đi xuất khẩu lao động. Người nông dân thông qua cơ hội đi xuất khẩu lao động mong được đổi đời. Nhưng tất cả cùng chẳng dễ dàng gì, đôi khi ngược lại với niềm mong đợi. Hội nhập với thế giới, mới thấy rằng “luật chơi”quả là khắc nghiệt, thương trường chèn ép, bảo hộ mậu dịch ràng buộc, bạn hàng cạnh tranh…xuất khẩu lao động mong được đổi đời thực tế bị đối xử, bóc lột, bị lừa lọc, bị đem con bỏ chợ, đôi khi chỉ mong lê được tấm thân về quê.
Xây dựng cơ sở hạ tầng của các công ty liên doanh làm cho những ngôi làng xưa bị biến thành công xưởng. Ao hồ, đình làng bị thu hẹp, mất không gian, cây đa, bến nước, sân đình bị lùi vào dĩ vãng, đất đai giờ đây được tận dụng để bán, để xây hàng quán, đất hương hoả của cha ông cũng bị thu hẹp dần. Dường như xã hội càng văn minh làng đã bị bỏ lại đằng sau và mất dần dấu vết hồn xưa. Nhiều người yêu làng bỗng nhận ra một thực tế xót xa là những con người làng xưa chân chất, đôn hậu, giờ đây đã tiêm nhiễm lối sống thực tế, đã xuất hiện ngày càng nhiều tệ nạn xã hội: mại dâm, nghiện hút, trộm cắp, du côn, người làng đâu còn giữ được lề xưa nếp cũ.Người ta bắt đầu vấn hỏi đó phải chăng là những gì ta đã mất đi khi hoà nhập với những gì khác ta! Và phải chăng đó là mặt trái của sự phát triển, được cái này chấp nhận mất cái kia. Có không ít người hoài cổ ngậm ngùi tiếc rẻ: làng xưa còn đâu!
Và những người con của làng đi tận cùng thế giới có mơ đến một ngôi làng Việt Nam bình yên trong làng toàn cầu.
______________________________________________
* Bài đã đăng trên Văn Nghệ trang 14, số 24 (11-6-2005)

Giữ lấy giá trị của tình yêu_ bài đã đăng trên tc Thanh niên, 2003

Saturday, November 19, 2011, 7:48:09 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Thế hệ @ là một từ mới phát sinh, chỉ những công dân sinh ra trong thời đại chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Con người mới, lối sống mới và tình yêu của họ đang đổi mới, song dù yêu thế nào thì họ cũng không thể vượt ra khỏi giá trị truyền thống vĩnh hằng không thể thay của tình yêu đó là hai chữ : yêu thương. Thời đại kỷ nguyên thông tin đang tạo ra những thế hệ công dân @. Điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập với muôn mặt trái đang có những tác động không nhỏ đến việc định hướng giá trị của thế hệ @. Những luồng tư tưởng, lối sống mới mang nặng màu sắc thực dụng và hưởng thụ đang gây ngiền thế hệ công dân mới này. Vì thế, tình yêu thời @ cũng mang sắc thái khác biệt so với các thế hệ trước đây.
Nhiều người, ngay các bạn trẻ cho rằng yêu bây giờ là phải thực tế, phải biết sống thức thời, biết cho và nhận một cách mạnh mẽ, nồng nhiệt. Tóm lại, là phải biết yêu một cách hiện đại hơn tình yêu truyền thống của các thế hệ trước. Có thể nói cường độ và tốc độ yêu thời @ cũng nhanh như bản thân sự biến đổi của công nghệ thông tin vậy. Chỉ cần lên mạng là cũng có thể tìm kiếm được tình yêu trong thời gian rất ngắn. Phong cách yêu, trao đổi tình cảm trở nên đa chiều, cởi mở và tự tin hơn. Dẫn chứng dễ thấy là, hằng ngày ra đường, vào trong các khuôn viên sẽ thấy các đôi tình nhân tự nhiên yêu nhau chẳng khác gì trong phim phương Tây. Họ yêu nhau đôi khi quên cả thế giới xung quanh, như là không gian ấy sinh ra là đẻ cho riêng họ. Trong sinh viên có tình yêu sống thử. ở các khu nhà trọ đang có hiện tượng vừa là nơi trọ học vừa là chốn vườn yêu. Hiện tượng đó, đang có xu hướng gia tăng, nhân lên theo kiển phong trào. Xã hội cùng nhìn nhận một thực tế: yêu là một chuyện, kết hôn là chuyện khác. Mẫu người yêu để đi đến hôn nhân bây giờ thường gắn với tiền đề vật chất(của cải, nhà đất, địa vị xã hội, thu nhập). Giờ đây, nhiều người ta cho rằng không có chuyện yêu thuần tuý, đẹp và lãng mạn như xưa mà yêu gắn liền với toan tính, so đo. Thực tế có đến mức bi quan như vậy không, cần chờ những sự biến đổi tiếp theo mới có thể kết luận được. Có điều, suy cho cùng, tình yêu cũng là một dạng quan hệ xã hội, một sản phẩm của xã hội, khi điều kiện xã hội(điều kiện sống- sinh hoạt vật chất và tinh thần thay đổi) thì quan hệ yêu đương cũng thay đổi theo. Song dù tình yêu có biến đổi đi chăng nữa, thì cũng phải dựa trên những hằng số cơ bản đó là sự yêu thương chân thành. Tách tiền đề tình yêu khỏi hôn nhân sẽ rất khó kiếm tìm hạnh phúc. Thủ hỏi cả xã hội ai cũng chạy theo thời, a dua theo thời, tình yêu “mì ăn liền” thì sẽ có hay không những tế bào xã hội lành mạnh đó là hạnh phúc gia đình bền vững?. Tuy nhiên, cũng cần công bằng nhận thấy rằng nhiều bạn trẻ bây giờ vẫn có bản lĩnh sống và yêu rất đẹp. Hõi các bạn trẻ thời @ thông minh, năng động. Tình yêu là một giá trị của hạnh phúc, do đó các bạn cần có ý thức về giá trị bản thân mình và định hướng giá trị hạnh phúc để sống và yêu một cách có ý nghĩa nhất, đừng học đòi, a dua, chạy theo thời thế đánh mất giá trị đẹp tuổi thanh xuân./.

Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta _

Saturday, November 19, 2011, 7:46:33 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Giảng đường đại học Việt Nam ngày càng đổi mới về cả nội dung chương trình học tập lẫn phương pháp sư phạm. Chương trình hiện đại hơn, được cập nhật những nội dung tiên tiến của thời đại. Phong cách sinh hoạt học thuật, cũng cởi mở dân chủ hơn. Đó là tín hiệu đáng mừng, song cũng vì thế đang đặt ra những điều cần bàn. Ngày nay sinh viên đến lớp rất đa dạng trong cách ăn mặc, từ quần áo, cặp sách, dày dép, đầu tóc. Giảng viên cũng không phải ai cũng chú ý đến những điểm đó như trước đây. Ngày nay sinh viên tự do yêu đương trong lớp học thậm chí ngồi cạnh nhau và tự do bày tỏ tình cảm công khai trước tập thê mà không mấy ngại ngùng. Ngày nay, sinh viên có thể ngồi và nói lên ý kiến của mình với giáo viên.
Ngày nay, sinh viên mạnh dạn vấn hỏi thầy giáo những vấn đề họ còn băn khoăn ngay trong lớp học, có sinh viên thậm chí cãi tay đôi với thầy. Sinh viên có tố giác những hành vi của thầy cô giáo một cách gay gắt và ngay tức thời… Những hiện tượng đó, một mặt nói lên không khí dân chủ cởi mở, nhưng qua đó cũng có những biểu hiện dân chủ một cách quá trớn, như hiện tượng sinh viên vô lễ không chào thầy giáo, ăn nói cộc lốc, ăn mặc lố lăng trong lớp học, yêu đương thiếu khiếm nhã, thậm chí đánh nhau trên giảng đưòng, tình trạng đi muộn, nghỉ học, xin ra ngoài một cách tuỳ tiện, nói chuyện hay làm việc riêng thiếu tôn trọng không khí chung. Nhiều thầy cô xem đó như là một sự đổi mới của lớp trẻ, dễ dàng chấp nhận không cho qua chuyện, cũng có thầy khắt khe thì nhắc nhở hay lên lớp cho một bài nếu thấy quá chướng tai gai mắt. Song theo quan điểm của nhiều thầy cô, cần phải cũng cố lại kỉ luật giảng đường. Cần phải nêu cao và thực hành tốt khẩu hiệu: Kỉ cương – tình thương – trách nhiệm. Khẩu hiện đó vẫn đặt yếu tố kỉ cương lên làm đầu. Dù thế nào thì kỉ cương, pháp chế vẫn phải được coi trọng. Có kỉ cương thì mới thực hiện ngiêm túc các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, mới phân vai một cách đúng mực: thầy ra thầy, trò ra trò được. Chúng tôi đồng ý với quan điểm đó và thấy rằng: Trong xã hội ta, đúng là dân chủ ngày càng mỏ rộng nhưng dân chủ không có nghĩa là tự do quá trớn, tự do vô chính phủ, làm việc sinh hoạt một cách tuỳ tiện, thiếu sư tôn trọng người khác. Dân chủ là để tăng cường sức mạnh của tập thể, là phải coi trọng tập thể. Chứ dân chủ không phải là đề cao cá nhân, và đặt ý muốn sở thích cá nhân lên trên những quy tắc tập thể. Giảng đường đại học lại là nơi đào luyện con người, nhưng công dân cho xã hội, nếu không làm tốt kỉ luật thì sẽ rất khó có được những công dân có ý thức trách nhiệm công dân cao, sống làm việc tuân thủ pháp luật được. Đơn cử, nếu trên giảng đường ta chấp nhận chuyện giờ giấc cao su, ra vào tuỳ tiện thì giảng đường cũng giống như một cái chợ, sinh viên buông lỏng ý thức tổ chức kỉ luật và tự giác. Sau này ra trường những công dân này rất khó bắt nhịp với tác phong công nghiệp đòi hỏi khoa học và chính xác cao. Trong học thuật được tự do trao đổi, có ý kiến nhưng phải có sự định hướng của thầy cô và phải thể hiện thiện sự vô tư lành mạnh chứ không theo kiểu lí sự cùn, cực đoan, võ đoán. Để làm được điều đó, chúng tôi cho rằng, mỗi thầy cô phải là một tấm gương về đạo đức nhân cách và lối sống. Trong thực tế, không ít thầy cô nhất là những thầy cô giáo trẻ có biểu hiện quá gần gũi với học sinh sinh viên, thiếu đi vẻ nghiêm túc trong uqan hệ thấy trofg, nói năng thiếu khiếm nhã , thậm chí có thầy đánh bài cùng sinh viên, uống rượu say cùng sinh viên… đó là những biểu hiện không đáng có, một sự tự do cởi mở không cần thiết thiếu đi sự tôn trọng của học sinh sinh viên với người thầy. Nếu giáo viên có những biêu hịệu như vậy, nhà quản lí cần phải có sự nhắc nhở, tập thể phải có ý kiến, có những hình thức kiểm điểm hoặc cao hơn là kỉ luật. Có như thế mới tạo ra một đội ngũ giáo viên có nhân cách trong sáng và lành mạnh. Ngày nay xã hội không thể chấp nhận hình ảnh một người giáo viên thụ động, áp đặt gia trưởng với sinh viên, hoặc có biểu hiện trù dập sinh viên. Ngược lại xã hội không chấp nhận hình ảnh một người thầy không nghiêm túc đứng đắn trong quan hệ với sinh viên. Hồ Chí Minh từng nói, đối với dân tộc Á Đông, mỗi tấm gương sống có giá trị gấp trăm lần bài diễn văn tuyên truyền. Thiết nghĩ câu đó phải trở thành định hướng phương châm hành động cho mỗi thầy cô, nhà giáo dục của chúng ta. Ở đây, những giáo viên lí luận chính trị, khoa học Mác – Lênin cần thể hiện và phát huy vai trò của mình. Giáo viên Mác Leenin muốn lôi kéo thu hút được sinh viên sống và làm theo những giá trị thì họ phải là người có tâm và có chuyên môn, nghệ thuật sư phạm. Giáo viên khoa học chính trị phải quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh sinh viên, bồi dưỡng nhân sinh quan lành mạnh. bản lĩnh chính trị vững vàng, rèn luyện ý thức công dân, tác phong kỷ luật, tính tự giác, tự chủ trong học tập và hành động của sinh viên. Đó là sứ mệnh của giáo viên khoa học Mác – Lênin nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung. Powered by Vnweblogs.comy 27 tháng 06, 2007 Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta_ đã đăng trên [link] Điểm Ngôi sao Blog: 0 (0 lượt) | Bình chọn: 6 điểm 5 điểm 4 điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm Dân chủ và kỷ luật giảng đường trong xã hội chúng ta P.T.H Người TQ gần đây có câu: học thuật thì tự do nhưng giảng đường phải kỷ luật. Điều đó nói lên tính nghiêm minh coi trọng kỉ luật ở giảng đường trên đất nước trung quốc dẫu cho không khí học thuật ngày càng cởi mở hơn trước đây rất nhiều. Câu đó làm ta liên tưởng đến Việt Nam ta. Giảng đường đại học Việt Nam ngày càng đổi mới về cả nội dung chương trình học tập lẫn phương pháp sư phạm. Chương trình hiện đại hơn, được cập nhật những nội dung tiên tiến của thời đại. Phong cách sinh hoạt học thuật, cũng cởi mở dân chủ hơn. Đó là tín hiệu đáng mừng, song cũng vì thế đang đặt ra những điều cần bàn. Ngày nay sinh viên đến lớp rất đa dạng trong cách ăn mặc, từ quần áo, cặp sách, dày dép, đầu tóc. Giảng viên cũng không phải ai cũng chú ý đến những điểm đó như trước đây. Ngày nay sinh viên tự do yêu đương trong lớp học thậm chí ngồi cạnh nhau và tự do bày tỏ tình cảm công khai trước tập thê mà không mấy ngại ngùng. Ngày nay, sinh viên có thể ngồi và nói lên ý kiến của mình với giáo viên. Ngày nay, sinh viên mạnh dạn vấn hỏi thầy giáo những vấn đề họ còn băn khoăn ngay trong lớp học, có sinh viên thậm chí cãi tay đôi với thầy. Sinh viên có tố giác những hành vi của thầy cô giáo một cách gay gắt và ngay tức thời… Những hiện tượng đó, một mặt nói lên không khí dân chủ cởi mở, nhưng qua đó cũng có những biểu hiện dân chủ một cách quá trớn, như hiện tượng sinh viên vô lễ không chào thầy giáo, ăn nói cộc lốc, ăn mặc lố lăng trong lớp học, yêu đương thiếu khiếm nhã, thậm chí đánh nhau trên giảng đưòng, tình trạng đi muộn, nghỉ học, xin ra ngoài một cách tuỳ tiện, nói chuyện hay làm việc riêng thiếu tôn trọng không khí chung. Nhiều thầy cô xem đó như là một sự đổi mới của lớp trẻ, dễ dàng chấp nhận không cho qua chuyện, cũng có thầy khắt khe thì nhắc nhở hay lên lớp cho một bài nếu thấy quá chướng tai gai mắt. Song theo quan điểm của nhiều thầy cô, cần phải cũng cố lại kỉ luật giảng đường. Cần phải nêu cao và thực hành tốt khẩu hiệu: Kỉ cương – tình thương – trách nhiệm. Khẩu hiện đó vẫn đặt yếu tố kỉ cương lên làm đầu. Dù thế nào thì kỉ cương, pháp chế vẫn phải được coi trọng. Có kỉ cương thì mới thực hiện ngiêm túc các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, mới phân vai một cách đúng mực: thầy ra thầy, trò ra trò được. Chúng tôi đồng ý với quan điểm đó và thấy rằng: Trong xã hội ta, đúng là dân chủ ngày càng mỏ rộng nhưng dân chủ không có nghĩa là tự do quá trớn, tự do vô chính phủ, làm việc sinh hoạt một cách tuỳ tiện, thiếu sư tôn trọng người khác. Dân chủ là để tăng cường sức mạnh của tập thể, là phải coi trọng tập thể. Chứ dân chủ không phải là đề cao cá nhân, và đặt ý muốn sở thích cá nhân lên trên những quy tắc tập thể. Giảng đường đại học lại là nơi đào luyện con người, nhưng công dân cho xã hội, nếu không làm tốt kỉ luật thì sẽ rất khó có được những công dân có ý thức trách nhiệm công dân cao, sống làm việc tuân thủ pháp luật được. Đơn cử, nếu trên giảng đường ta chấp nhận chuyện giờ giấc cao su, ra vào tuỳ tiện thì giảng đường cũng giống như một cái chợ, sinh viên buông lỏng ý thức tổ chức kỉ luật và tự giác. Sau này ra trường những công dân này rất khó bắt nhịp với tác phong công nghiệp đòi hỏi khoa học và chính xác cao. Trong học thuật được tự do trao đổi, có ý kiến nhưng phải có sự định hướng của thầy cô và phải thể hiện thiện sự vô tư lành mạnh chứ không theo kiểu lí sự cùn, cực đoan, võ đoán. Để làm được điều đó, chúng tôi cho rằng, mỗi thầy cô phải là một tấm gương về đạo đức nhân cách và lối sống. Trong thực tế, không ít thầy cô nhất là những thầy cô giáo trẻ có biểu hiện quá gần gũi với học sinh sinh viên, thiếu đi vẻ nghiêm túc trong uqan hệ thấy trofg, nói năng thiếu khiếm nhã , thậm chí có thầy đánh bài cùng sinh viên, uống rượu say cùng sinh viên… đó là những biểu hiện không đáng có, một sự tự do cởi mở không cần thiết thiếu đi sự tôn trọng của học sinh sinh viên với người thầy. Nếu giáo viên có những biêu hịệu như vậy, nhà quản lí cần phải có sự nhắc nhở, tập thể phải có ý kiến, có những hình thức kiểm điểm hoặc cao hơn là kỉ luật. Có như thế mới tạo ra một đội ngũ giáo viên có nhân cách trong sáng và lành mạnh. Ngày nay xã hội không thể chấp nhận hình ảnh một người giáo viên thụ động, áp đặt gia trưởng với sinh viên, hoặc có biểu hiện trù dập sinh viên. Ngược lại xã hội không chấp nhận hình ảnh một người thầy không nghiêm túc đứng đắn trong quan hệ với sinh viên. Hồ Chí Minh từng nói, đối với dân tộc Á Đông, mỗi tấm gương sống có giá trị gấp trăm lần bài diễn văn tuyên truyền. Thiết nghĩ câu đó phải trở thành định hướng phương châm hành động cho mỗi thầy cô, nhà giáo dục của chúng ta. Ở đây, những giáo viên lí luận chính trị, khoa học Mác – Lênin cần thể hiện và phát huy vai trò của mình. Giáo viên Mác Leenin muốn lôi kéo thu hút được sinh viên sống và làm theo những giá trị thì họ phải là người có tâm và có chuyên môn, nghệ thuật sư phạm. Giáo viên khoa học chính trị phải quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh sinh viên, bồi dưỡng nhân sinh quan lành mạnh. bản lĩnh chính trị vững vàng, rèn luyện ý thức công dân, tác phong kỷ luật, tính tự giác, tự chủ trong học tập và hành động của sinh viên. Đó là sứ mệnh của giáo viên khoa học Mác – Lênin nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung

Nghề giáo: lương tâm và trách nhiệm_ ĐÃ ĐĂNG TRÊN ĐT ĐẢNG CỘNG SẢN, 11,2006

Saturday, November 19, 2011, 7:45:09 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
Nghề giáo: lương tâm và trách nhiệm Nghề nghiệp nào cũng tạo ra giá trị riêng của nó và cũng cần đến những tiêu chuẩn riêng về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Song có lẽ nghề thầy lắm đòi hỏi và để thành đạt cần không ít những công phu. Thầy là để dạy người, giúp đời. Dạy thế nào, sống thế nào, để xứng đáng tư cách mô phạm một người thầy quả là không dễ, nhưng chắc hẳn không phải là việc quá khó không làm được.
Mỗi năm cứ đến ngày 20 tháng 11, là ngày hội của các thầy cô. Những học sinh, những bậc phụ huynh đến chúc mừng các nhà giáo. Trước những bông hoa tươi thắm, những món quà giàu ý nghĩa, những lời chúc mừng cao đẹp, ta mới thấy người thầy được tôn vinh, thấy được cái cao cả vẻ vang sau nhọc nhằn nghề nghiệp. Các thầy cô giáo đã làm gì và cần làm gì xứng với sự tôn vinh ấy! Có bao nhiêu người đã suy nghĩ về đạo đức nghề nghiệp, có bao người đã tri ân những tấm lòng của chính học sinh của mình. Bởi sự vẻ vang của mình chỉ có được khi những người học thành danh, thành tài, trở thành những công dân tốt của xã hội. Giáo dục đào tạo là chuyện muôn thuở, nó cần như cơm ăn, nước uống, như những nhu cầu thiết yếu khác của đời sống thường nhật. Nhưng giáo dục, đào tạo không thể là việc tầm thường, là việc thực hiện theo nghĩa vụ xong chuyện mà cần đến lương tâm, trách nhiệm, cần đến chuyên môn sâu. Bởi giáo dục đào tạo là phương thức đào luyện hiền tài mà, đúng như người xưa đã nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nó liên quan đến sự thịnh suy của một dân tộc, không thể xem thường. Song thực tế xã hội đang lên án giáo dục, đang mổ xẻ giáo dục để tìm những con sâu, tìm những vết đen cần tẩy rửa, tìm ra vi trùng làm băng hoại cơ thể giáo dục và cần đến những phương thuốc đặc trị vi trùng. Thầy cô giáo có phần trách nhiệm, xã hội có phần trách nhiệm. Căn bệnh thành tích, giáo dục ảo, chưa coi trọng thực chất; kinh tế thị trường đã làm nhiều thầy cô đánh mất lương tâm đạo đức, những chất xám trí tuệ của đất nước bị lãng quên hoặc chưa có cơ chế chính sách để phát huy đúng đắn. Gần đây báo chí đưa tin chuyện gian dối trong thi cử, chuyện chạy trường chạy điểm liên qua tới một số thầy cô giáo, làm xã hội hoang mang và bức xúc. Bắt đầu từ chuyện thi cử tốt nghiệp ở Hà Tây, cho đến chuyện thầy giáo ở trường CĐ Phát thanh – Truyền hình Hà Nam ép tình học sinh đổi điểm, chuyện trường chuyên Lê Quý Đôn của một thành phố lớn nhất của cả nước – TP. Hồ Chí Minh, ở đó giáo viên tốt thì bị trù dập, và lãnh đạo làm những việc trái với pháp luật…nhiều và nhiều những câu chuyện tiêu cực khác làm xã hội đang nóng lòng chờ đợi một sự đổi thay, một làn gió mới. Bộ trưỏng Bộ giáo dục mới Nguyễn Thiện Nhân được xem là một anh tài, vừa mới đảm nhận chức Bộ trưỏng đã được các bậc phụ huynh gửi gắm nhiều nổi niềm, chờ đợi một quyết sách sáng suốt, chờ đợi một con người có thể bằng cả đức lẫn tài thay đổi những căn bệnh trầm kha của giáo dục, giải quyết những vấn nạn đang đe doạ sự nghiệp trồng người. Cho đến thời điểm này, Bộ trưởng mới đã làm được nhiều điều, nhưng dẫu sao tất cả mới bắt đầu, nhân dân có sự tin tưởng nhưng cũng không ít hoài nghi, một sự nghiệp lớn như vậy, liên quan đến cả hệ thống, liệu bộ trưởng dám quyết và dám đi đến tận cùng của mọi vấn đề? Một tín hiệu mừng, Quốc hội đang quan tâm bàn bạc đến vấn đề tăng lương cho ngành giáo dục, theo đề nghị của nhiều người đó là một trong những vấn đề cần giải quyết trước mắt để đảm bảo cuộc sống cho hàng triệu giáo viên cả nước, như thế sẽ thay đổi được phần nào những tiêu cực trong giáo dục. Song đó chưa hẳn là tất cả của vấn đề, vấn đề vẫn là ở khâu đào tạo con người nhà giáo, nhà quản lí giáo dục sao cho thấm nhuần tinh thần giáo dục trong sạch, một nền giáo dục lấy chất lượng thực làm trọng chứ không phải là một nghề để trục lợi. Và nếu họ vi phạm cần có một chế tài xử lí thanh lọc thật hiệu quả. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nói: người giáo dục cũng cần phải được giáo dục. Điều này đáng để các thầy cô giáo, nhà quản lý giáo dục đào tạo của chúng ta suy nghĩ lắm chứ. Mọi hành động điều có luật nhân quả chi phối, nghĩa là gieo nhân sẽ phải gặt quả, nhân nào quả ấy hoặc là kết quả tốt đẹp hoặc là hậu quả. Chúng ta phải công tâm và sáng suốt nhìn nhận những yếu kém và đừng thổi phồng hoặc hạ thấp những nguyên cơ. Chúng ta phải có văn hoá chịu trách nhiệm. Trong thực tế, chúng ta thấy hễ có chuyện gì là ông này ông kia dù ở cấp nào cũng bao biện, cũng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, ít người có được sự dũng cảm trong nhìn nhận và giải quyết những vấn đề. Đó cũng là điều đáng buồn và đáng phê phán. Đã đến lúc giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến ý thức trách nhiệm của công dân. Dịp chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam năm nay đúng vào dịp mà cả nước đang bắt đầu dấy lên sự nghiệp chấn hưng giáo dục. “Nói không với tiêu cực” mong rằng không dừng lại ở khẩu hiệu mà là hành động, hành động với lương tâm và trách nhiệm cao nhất! Các thầy cô giáo, đã làm thầy cho hãy xứng danh thầy. Nêu cao hơn nữa lương tâm và trách nhiệm của mình, đừng a dua và đổ lỗi cho hoàn cảnh kinh tế thị trường. Lương tâm và phẩm cách của mỗi người phải tự mình rèn dũa và giữ lấy. Lương tâm của thầy giáo cô giáo, và những nhà giáo dục trước hết là ở chỗ, chấp hành pháp luật và ứng xử theo những quy phạm đạo đức nghề nghiệp, làm được cao hơn nữa là yêu nghề, yêu trò, sống không vụ lợi và luôn tâm nguyện trở thành một người thầy chân chính theo đúng nghĩa./. XM mùa thu 2006

Bài viết cũ, PXH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT NGƯỜI CÁN BỘ NHÂN DÂN

Saturday, November 19, 2011, 7:43:44 PM | noreply@blogger.com (PXH [PTH])Go to full article
(Bài viết đã được đăng trên tạp chí Tổ chức Nhà nước, tháng 10.2009)
Trong Di chúc của Người, ta thấy toát lên một khía cạnh tư tưởng hết sức sâu sắc: tư tưởng về người cán bộ nhân dân. Có thể nói, đó là sự kết lại cả một chiều dài suy ngẫm biết bao năm làm chính trị, giáo dục, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện cán bộ dưới chế độ mới. Thực ra, trong tư tưởng của mình, Người đã nhiều lần đề cập đến cán bộ, công tác cán bộ, song với Di chúc những quan điểm tư tưởng đó lại mang một bình diện ý nghĩa khác. Di chúc là lời căn dặn của một người đang gánh trên vai mình phận sự lớn lao, ý thức được cái trách nhiệm nặng nề thiêng liêng trước dân tộc, trước quốc dân, đồng bào khi đã vào cái tuổi xưa nay hiếm, cái buổi gần đất xa trời; là tiếp tục khẳng định những phương hướng tương lai cho dân tộc Việt Nam.
Người viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.