Paxuho
Có một miền minh triết nhưng rất xa...!
Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016
Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016
TƯỢNG DANH NHÂN
Giờ nhìn những tượng đài về các danh nhân xưa nom giông giống nhau. Giống ta với tàu. Đúng là tính ước lệ nhiều!
Bởi hậu thế có ai chứng được dung nhan các vị tiền nhân thời mà máy ảnh chưa ra đời. Những bức vẽ về họ (nếu có), cũng chỉ là hoạ hồn hoạ cốt, đâu vẽ mặt, vẽ da.
Nhưng ắt điều này thì mãi mãi:
"Danh nhân sống mãi với non sông
Bởi cả tài năng lẫn tấm lòng
Tài năng soi sáng đời hậu thế
Tấm lòng còn ấm đến mênh mông"
(Paxuho.2016)
Bởi hậu thế có ai chứng được dung nhan các vị tiền nhân thời mà máy ảnh chưa ra đời. Những bức vẽ về họ (nếu có), cũng chỉ là hoạ hồn hoạ cốt, đâu vẽ mặt, vẽ da.
Nhưng ắt điều này thì mãi mãi:
"Danh nhân sống mãi với non sông
Bởi cả tài năng lẫn tấm lòng
Tài năng soi sáng đời hậu thế
Tấm lòng còn ấm đến mênh mông"
(Paxuho.2016)
P/s. Tượng đại danh y Lê Hữu Trác trong khuôn viên bệnh viện đa khoa Ninh Bình.
Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016
Thăng Long ngóng Biển Đông
Hoàng sa, Trường Sa, Cha Rồng biển Đông đang nơi đầu
sóng dữ,
Thăng Long lại giục mình giang tay níu đảo xa!
***
Đêm qua, trong giấc mơ
tôi thấy rồng Hà Nội lại thăng thiên. Con rồng ấy hình như là con rồng thời Lý
(1009-1225), rồng dáng dấp hiền hòa mềm mại mềm mại của rắn, nhỏ nhắn, thanh
thoát nhưng oai hùng, con rồng ấy lưng chừng trời ngắm nhìn thủ đô bốn hướng
rồi, rồng rướn mình bay về phía biển Đông. Trong miệng rồng mang theo lá thư
của người Thăng Long, mà không, của lòng người cả nước, được chấp bút từ Thăng
Long, trao gửi cho các chiến sĩ nơi biển xa đang gồng mình dập tắt những vòi
rồng quái gỡ đến từ Trung Hoa, bảo vệ giang sơn của đức Cha rồng chốn biển Đông
và trao cùng những con dân nước Việt đang thao thức, khắc khoải hàng ngày hàng
giờ với biển Việt mến yêu đang trong cơn nguy hiểm cận kề.
Với biển, người Hà Nội vẫn mang trong mình một duyên nợ.
Thuở xa xưa ấy, cư dân Hà
Nội còn ít ỏi, cư trú trên những dõi đất cao lập thành làng và mưu sinh ven các
hồ lớn như Hồ Tây (Dâm Đàm), Bảy Mẫu và ít nhiều trên các vùng đầm phá (Thanh
Trì). Người Hà Nội đặc biệt gắn bó với sông Hồng, coi đấy là con đường huyết
mạch về với ngược Bắc xuôi Đông.
Thuở
ấy, người Hà Nội chưa biết nhiều về biển như bây giờ, nói đến ai đi biển là nghĩ
đến cả một hành trình xa xôi và đầy mạo hiểm. Những người đi đến biển chủ yếu
là “dân thương hồ” và trong hình dung của người Thăng Long đấy là một điều gì
lớn lao phi thường. Đi du lịch, tắm biển lại là câu chuyện không chưa có trong
ý tưởng của người Hà Nội xưa.
Thi thoảng những cư dân
vùng Duyên Hải, theo sông Hồng mang cá muối lên đổi chác, buôn bán với kinh đô.
Người Thăng Long sử dụng thức ăn biển như một sản vật mà chủ yếu vẫn là đồ khô,
muối biển, mắm biển vì ngày ấy đường xa, đi lại khó khăn, lại chưa có dụng cụ
bảo quản lạnh như bây giờ. Những con tàu chở cá thường phủ lên những loại lá
vừa khử mùi, vừa bảo quản tránh ruồi, côn trùng xâm hại thực phẩm. Những con
thuyền đến và đi mang theo nỗi nhớ và niềm hi vọng, gắn kết biển với đất liền,
với những người yêu biển.
Cư
dân biển vùng duyên hải cũng không phải ai có cơ duyên đến với kinh đô, bởi “đường
ngái bái xa”, đi lại chủ yếu bằng thuyền bè và đi bộ, chỉ những quan lại và kẻ
sĩ thi thoảng có việc lên kinh kì, hoặc dân thương lái đi về đem ba câu chuyện
kinh đô văn hiến thanh lịch kể cho bà con, với họ thực sự cũng là một khám phá.
Kinh đô vẫn luôn ở trong lòng họ như một nỗi nhớ niềm mong, ao ước được một lần
trong đời được đặt chân đến.
Trong
tư duy người Thăng Long xa xưa, vùng biên giới phía Nam vẫn đất nước mới chỉ
dừng lại ở đất Nghệ Tĩnh, nơi mà xưa kia đền Cuông (Mộ Dạ) lưu dấu đức An Dương
Vương. Truyền thuyết còn lưu, nhà vua khi từ kinh thành Cổ Loa mấy ngày trời dong
ngựa chạy giặc đến đấy thì gặp biển bao la, không có đường tiến đành rút gươm
chém con gái rồi nhảy xuống biển sâu tự vẫn. Đấy là một huyền thoại nhắc nhở
người Việt về lòng cảnh giác, một sự cảnh giác cao độ với láng giềng phương
Bắc. Sau này, nhà thơ Tố Hữu đã có những câu thơ chứa chan tiếc nuối:
“Vẫn nhớ ngày xưa chuyện
Mỵ Châu
Trái tim lầm lỡ để trên
đầu
Nỏ thần vô ý trao tay
giặc
Nên
nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.
Tư duy biển của người Hà
Nội-gắn liền với hình tượng con Rồng cháu Tiên thuở xa xưa trong huyền thoại nhất
là khi Lý Công Uẩn đời đô về lại đất này, tính kế muôn đời. Khi nhà Vua dời đô
từ Tràng An (Ninh Bình) về Đại La (Tống Bình- Hà Nội xưa) thì thấy rồng vàng
bay lên nên ngài đặt tên đất này là Thăng Long (hình tượng rồng bay) và rồi rồng
không trú ngụ trên trời xanh hay chốn non cao mà chỗ Rồng Việt cư trú là ở biển
đông, vì thế mới có Hạ Long (nơi rồng đáp xuống nước) và Bạch Long Vĩ (đuôi
rồng) nơi vùng Quảng Ninh ngày nay.
Người Đại Việt sau này
cũng coi trọng đất liền và cũng hướng về biển nhưng chủ yếu là biển ven bờ (cận
duyên). Ra khơi xa gió to sóng dữ những con thuyền mỏng manh đâu dễ và vì vậy
biển khơi với họ vẫn là một câu chuyện li kì, đầy huyền hoặc. Nhưng người Thăng
Long cũng như con dân Đại Việt luôn biết và luôn ghi nhớ những câu chuyện qua
các đời nối tiếp nhau dân mình đã thắng giặc trên những cửa sông lớn đổ ra biển
mà cửa biển Bạch Đằng là một tử huyệt khiếp đảm của quân Tống, sau nữa là quân
Nguyên Mông. Những Trận đánh sấm vang chớp giật ấy được các sử gia Thăng Long
chú tâm ghi lại cho con cháu muôn đời trong sử sách oai hùng của dân tộc. Nhờ
những trận đánh ấy mà thủ đô Thăng Long được giữ vững, giang san được vẹn toàn.
Vì
thế, các nhà quân sự sau Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo rất chú ý đến sông nước biển,
chú ý đến thủy quân. Những vùng biển hiểm trở đều là những huyệt đạo quân sự
đánh giặc dữ nước. Cửa biển Thần Phù trên đất Tam Điệp Ninh Bình ngày nay là
một yếu địa như thế. Qua được cửa biển Thần Phù phải mấy đời “tu”, và giặc qua
biển Thần Phù phải đóng thuyền lớn, đội chèo tinh nhuệ, thông thạo đi biển, nếu
không bỏ mạng tức thì. Thần Phù là nơi trấn giữ cận kề Thăng Long ở Phía Nam
thời Đại Việt.
Biển không phải là tất cả nhưng là thành tố
quan trọng bậc nhất hợp thành đất nước
Cư dân Việt cổ và nhà
nước Đại Việt sau này với lực lượng sản xuất còn thấp kém, chủ yếu vẫn khai phá
ở lãnh địa nông nghiệp. Vì thế hai thành tố đất, nước là hết sức quan trọng. Mẫu
Địa- mẹ đất, Mẫu thoải- mẹ nước. Đất sinh sôi và chở che vạn vật, nước tưới tắm
chăm bón sự sinh trưởng tạo nên đời sống phồn thực, tươi tốt. Hai yếu tố tối quan
trọng với cư dân nông nghiệp nên hai từ đất và nước ấy lại tạo thành một danh
từ mang nghĩa hàm ngôn là Quốc gia dân tộc.
Trong dân gian vẫn có
những từ kiểu dạng từ xuất phát từ những danh từ được sử dụng như vậy cũng để
chỉ đất nước, ví dụ: non nước (Sơn Hà). Non là núi, nước chỉ sông hồ; hai thực
thể vây quanh gắn bó với con người. Thêm nữa, với người Việt mình rừng cũng
quan trọng. Dân gian đã gán cho rừng hình tượng thiêng Mẫu Thượng Ngàn. Cho nên
bộ tứ Phủ: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng ngàn đã hợp thành không
gian vừa thực vừa huyền bí tâm linh tạo nên sự tính thiêng cho sự tồn tại của nước
Việt muôn đời nay.
Với
biển thì người Việt có một cảm thức khá đặc biệt. Trong tâm thức xa xưa thì cha
người Việt –Lạc Long Quân- một bản thể dương lại từ biển. Điều này được ghi dấu
trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Nàng Âu Cơ sắc màu huyền thoại. Theo đó, chàng
Lạc Long Quân một ngày nọ, từ biển đi dạo vùng núi non đã gặp nàng tiên Âu Cơ
để rồi nên duyên sinh con đẻ cái từ đó tỏa đi lên rừng, xuống biển cai quản núi
sông và mưu sinh, đẻ ra lớp lớp cháu con người Việt sau này.
Như vậy, đến với biển của
người Việt là một quá trình có thể thấy từ vùng đất tổ Hùng Vương (Non cao,
Thượng ngàn) về với đồng bằng- sông (Địa-Thủy) và ven biển (Thủy) là một dòng
hợp lưu Rừng- Đồng bằng - Biển cả kiến tạo nên không gian đất nước, hội tụ đầy
đủ các thực thể tự nhiên quan trọng đối với đời sống của con người.
Trong so sánh với rừng, biển
cũng hung dữ hơn và mạo hiểm hơn rừng. Thường theo quan niệm dân gian, biển là
nơi quỷ dữ trú ngụ, là các loài thủy quái hành tàng, do vậy trấn biển phải
thường là các vị thần, thường là các vị thủy thần trong truyền thuyết như Long
Vương, Vua Thủy Tề, các vị thần hữu danh và vô danh, các vị nhân thần người
Việt và đó thường làm nam tính.
Ngũ vị Đẳng thần được cho
là có liên quan trực tiếp tới Biển Đông của Việt Nam [i],
đó là: Bạt hải Đại vương tôn thần, vị thần "hữu vi, vô danh"
tức có nhiều công giúp nước nhưng không biết đến danh tính, là một vị thần liên
quan trực tiếp đến biển. Ngài Thiên Quan Bình lãng Đại Vương, cũng là vị
Hữu vi Vô danh, là vị thần giúp nhân dân bình được sóng gió. Ba vị Mạnh
Tướng Đăng Kinh Đại Vương, Hỏa thần Đống Duy Đại Vương, Thần Kỳ
Cửa Chùa Đại Vương, là những vị Nhãn Thần, được coi như những con mắt dõi
theo và bảo vệ dân. Đó còn là những người có công khai phá biển, trấn biển là
những vị tướng quân được nhân dân ghi nhớ và tôn thờ như Nguyễn Công Trứ (khai
phá đất Thái Bình), Hưng nhượng Vương Trần Quốc Tảng (Hòn Gai, Cưả Ông), là tướng
công Trần Khánh Dư (Vân Đồn)... và đi biển thường là những nam dân vạn chài lực
lưỡng, ngực trần đón gió, lướt trên sóng đầy sức mạnh chiếm hữu như là các
chàng trai trong hải đội Hoàng Sa, Trường Sa của ngư dân đảo Lý Sơn.
Có một lịch sử dài hàng
trăm năm chống xâm lăng của người Việt gắn liền với biển, từ đời Lí, đời Trần
cho đến Tây Sơn, nhà Nguyễn và các cuộc chiến tranh về sau này. Trong chiến
chống Mỹ, những trận chiến trên biển, sự hình thành và hoạt động của đoàn tàu
không số vận chuyển bí mật tác chiến trên biển, mang vũ khí quân lực ra Bắc vào
Nam đã làm nên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển đông, góp phần vào
thắng lợi chung của cuộc chiến tranh.
Nhưng với biển, người Đại
Việt thuở trước cho đến người Việt về sau này vẫn chủ yếu dừng lại ở đỉnh cao
chiến tranh, của nghệ thuật quân sự, đó không còn là điều phải bàn cãi.
Tư duy hướng biển của người Việt ngày càng rõ nét
Phải nói rằng, biển là
một phần từ lâu trong tâm thức Việt, của người Thăng Long nhưng do những hạn
chế khác nhau, sự chiếm hữu biển của người Việt, khoảng 7 thế kỉ đầu thời kì
Trung Đại, khi hình thành nhà nước tập quyền chuyên chế đến khi nhà Nguyễn khai
phá vùng đất phương Nam, vẫn còn nhiều hạn chế. Hạn chế trong việc vươn ra biển
lớn, hạn chế trong kĩ nghệ đóng tàu thuyền, trong hoạt động kinh tế biển và hàng
hải biển. Thậm chí đó không phải là điều được sử sách đề cập bao nhiêu. Nhưng
có lẽ trong tâm thức người Thăng Long nói riêng, người Đại Việt nói chung vẫn
theo con nước sông Hồng, sông Mã, sông Cả (sông Lam) về với cha biển Đông, mang
nỗi niềm từ hàng nghìn năm trước đó từng ấp ủ, coi biển như là một miền của cơ
thể đất nước chưa được khai phá, nơi nuôi dưỡng những tiềm năng đợi con cháu
muôn đời sau.
Mặc dù có những hạn chế về
phương tiện và kĩ thuật tiếp cận biển nhưng người Việt luôn mang trong mình một
tâm thế khai phá, do vậy, với cuộc Nam tiến của chúa Nguyễn mà khởi đầu là
nguyễn Hoàng đã vượt dãy Hoành Sơn (Kỳ Anh) đã mở ra một giang sơn mới ở phía
Nam đầy tiềm năng hứa hẹn sự trù phú lâu dài. Cũng từ đó, “tư duy hướng biển”,
theo con đường Nam tiến đã rộng mở hơn, rộng hơn và xa hơn và như cách nói của
nhà văn Nguyên Ngọc, người Việt có một “nỗi niềm biển Đông” trên hành trình nam
tiến ấy.
Các chúa Nguyễn (thế kỷ
XVII) đã lập các hải Đội Hoàng Sa, trường Sa đi tới các đảo vùng xa xôi ấy, đo
đạc, thu lượm sản vật và cai quản biên giới; kĩ nghệ hàng hải phát triển, giao
lưu và buôn bán với các nước lân bang bằng đường biển nở rộ thời kì bấy giờ.
Đến thời hiện đại, người
Việt “bận bịu” với chiến tranh, với kiến tạo trên đất liền, mà phần nào chưa
chú trọng biển. Từ hành trình khởi đầu từ các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII) ấy,
phải đợi đến chừng 200 năm sau, năm 2007, người Việt mới có một chiến lược về
biển, và năm 2012, Luật biển Việt Nam ra đời, đánh dấu một sự trưởng thành
trong tư duy biển. Một hành trình quá dài và quá đỗi nhọc nhằn. Nhưng đó là cả
một quá trình dồn nén và tích tụ, chắc hẳn rồi đây, trước biển Đông, người Việt
sẽ phải có những tư duy mới về địa chính trị, về văn hóa biển, để không bỏ lỡ
hơn thêm những cơ hội cho giàu lên từ biển, mạnh lên với biển như chiến lược
biển Việt Nam đã đề ra.
Thư Thăng Long bay về phía biển
Đất nước có hơn 3260km
đường bờ biển, xuyên qua 28 tỉnh thành, với bao làng vạn chài mưu sinh nơi bể
rộng, song có lẽ khắc khoải nhiều nhất cho biển Đông vẫn là từ thủ đô Hà Nội,
có thể nói như vậy, bởi nơi đây là chốn trung tâm, nơi tập hợp những người nắm
giữ trọng trách của đất nước, nơi hội tụ tinh hoa hiểu biết sâu dày về lịch sử,
văn hóa nước Nam mình. Với ý nghĩa ấy, sự khắc khoải đó không còn là chỉ của riêng
Hà Nội nữa mà là sự khắc khoải tiêu biểu của muôn dân nước Việt với Biển Đông, với
khơi xa mà người Hà Nội nhận thấy trách nhiệm lớn của mình với biển, với sự an
nguy của chủ quyền biển đảo.
Quay
lại giấc mơ về lá thư Thăng Long. Lá thư ấy không là giấc mơ mà là chuyện thực
trong đời. Lá thư ấy hình như được bắt đầu từ vương triều nhà Lý, trao chuyển
qua nhà Trần và các đời vua sau trên cõi Đại Việt, lá thư ấy chuyển trao thông
điệp, rằng:
“Sông núi Nước Nam vua
Nam ở/Rành rành định phận tại sách trời/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay
sẽ bị đánh tơi bời”; “Kẻ nào dám đem một thước đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc
sẽ bị tội tru di” (Lê Thánh Tông); “các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu
ta phải cùng nhau giữ lấy nước” (Hồ Chí Minh)
Rằng: “rừng vàng biển bạc”
(ngạn ngữ), “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có
biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp ta phải biết giữ gìn lấy nó”; Và dù vật đổi sao
dời có một chân lí cũng không được bao giờ thay đổi, đó là: “Không có gì quý
hơn độc lập, tự do”.
Lá thư ấy, không được
viết bởi một người mà được chấp bút tiếp nối sâu đậm những dòng chữ của các bậc
minh quân mang ý chí của cả nước, hồn cốt của toàn dân tộc, của muôn nẻo kiếp
người, muôn con dân trên dãi đất nước non mến yêu này.
Ý chí ấy, đang được khẳng
định và tiếp nối bởi người đứng đầu cao nhất của nhà nước Việt Nam hôm nay-
Ngài Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang: “Chúng ta kiên quyết không để một tấc đất,
tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm. Đối với bất cứ người Việt Nam
nào, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm”.
Người Việt, với tinh thần
hồn cốt Thăng Long, hào khí Đông A phải thực hiện cho được tâm nguyện của các
thế hệ Cha Ông về giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Hà Nội, 2014
[i] [i] http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/23142502-noi-dau-tien-tho-nhung-vi-than-giu-bien-dong.html
Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016
CHÙA NINH DUYÊN –MỘT ĐỊA CHỈ CẦU DUYÊN

(Ảnh Internet)
Về Ninh Bình, di theo
cung đường Tràng An- Bái Đính, từ thành phố Ninh Bình lên khoảng 10 km, ta gặp
chùa Duyên Ninh tại thôn cổ Chi Phong, Trường Yên, Ninh Bình. Ngôi cổ tự được
dân gian đồn là linh thiêng trong việc cầu duyên, cầu tự.
Ai có dịp du xuân Tràng
An, Bái Đính, nhất là các bạn trẻ muộn duyên xin hãy chứng nghiệm cơ hội này.
Theo wikipedia: tương
truyền, Chùa Duyên Ninh là nơi các công chúa thời Đinh- Lê thường qua lại. Tại
đây, công chúa Lê Thị Phất Ngân và tướng công Lý Công Uẩn đã thề hẹn ở đó mà
sinh ra Lý Phật Mã (sau là vua Lý Thái Tông) vào năm 1000. Sau này khi Lý Thái
Tông trở về đây dẹp loạn Khai Quốc Vương đã đổi tên chùa thành chùa Duyên Ninh.
Cuối đời, Hoàng hậu Phất Ngân đã về đây tu hành và trông coi mộ phần thân phụ
là Hoàng đế Lê Đại Hành. Tại đây, Hoàng hậu đã tác hợp cho nhiều đôi lứa nên
duyên vợ chồng và từ đó Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên ở cố đô Hoa
Lư. Cầu duyên được hiểu là cầu cho duyên phận, duyên tình, duyên số,... được
như ý. Chữ duyên bao hàm sự may mắn, có yếu tố “thiêng” bên cạnh sự nỗ lực của cá
nhân mỗi người.
Có chàng trai kể rằng,
vào chùa Ninh Duyên cầu duyên, ra đường gặp và va phải một cô gái, từ đó nên
duyên, nên vợ nên chồng.
Nghe hài nhưng mà lý thú
phải không.
Thực hư chuyện cầu duyên
như thế nào không hẳn đã rõ ràng, nhất là dưới lăng kính khoa học duy vật. Có
thể, việc tìm hiểu câu chuyện nơi đây, với không gian thiền, tâm lý thư giãn sẽ
cho các bạn một nguồn cảm hứng mới về tình yêu. Còn chuyện linh nghiệm hay
không thì ai có “cơ duyên chứng nghiệm” mới hay.
Nhưng tôi cho rằng, có
một nguồn năng lượng vô hình khi ta đến với ngôi chùa nơi dân gian đã gửi vào
đó những sắc màu tâm linh mà thiết nghĩ không hẳn tự nghĩ ra, thêu dệt nên,
chắc hẳn phải có nhưng sự trùng hợp với xác suất cao.
Đầu xuân, vào ngày lễ
Thánh Tình yêu 14/2, xin giới thiệu với các bạn đôi dòng về chùa Duyên Ninh mà tôi
từng nghe, từng biết trên cố đô Hoa Lư, Ninh Bình.
Paxuho,2016
Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016
Hà "lội" phố
Mưa chiều. Nhiều phố Hà Nội biến thành sông. Mỗ tôi tháo dày đi trên sông.
Nên có thơ rằng:
"Phố thành sông, chẳng phải "sông" Hồng
Ì oạp nước, chân trần em lội nước
Vừa lội vừa dò hiểm nguy phía trước
Hà Nội ơi, ống cống ở phương nào
Mộng mơ Hà Nội vươn cao
Mà chân vẫn nước biết chừng nào thôi..."
(Paxuho)
Ps. Ảnh chụp trên phố Đội Cấn
Nên có thơ rằng:
"Phố thành sông, chẳng phải "sông" Hồng
Ì oạp nước, chân trần em lội nước
Vừa lội vừa dò hiểm nguy phía trước
Hà Nội ơi, ống cống ở phương nào
Mộng mơ Hà Nội vươn cao
Mà chân vẫn nước biết chừng nào thôi..."
(Paxuho)
Ps. Ảnh chụp trên phố Đội Cấn
Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016
CON THÍCH VỀ VỚI BIỂN
(Tản văn ngắn tặng 2 con gái)
Con thích về với biển. Biển đang đau, con đâu biết điều này.
Biển mênh mông mà chúng ta bé nhỏ, ta làm được gì để biển vợi nỗi đau.
Con yêu biển bố đưa con ra biển. Bố vui niềm vui của con mà ái ngại trong lòng.
Biển Tổ quốc mình đang bị che tầm nhìn con ạ. Lớn lên con sẽ hiểu vì sao.
Vẫn cứ thế những mùa hè con mong biển. Bố mẹ phân vân ta đi biển nơi nào.
Trên sóng cát con vui đùa với biển. Sóng vờn chân con và nắng chiếu trên đầu.
Khoảnh khắc ấy đẹp trong từng chi tiết. Vị ngọt tuổi thơ đâu chỉ là tiếng mẹ à âu!
Sầm Sơn -Hà Nội 7/2016
(Tản văn ngắn tặng 2 con gái)
Con thích về với biển. Biển đang đau, con đâu biết điều này.
Biển mênh mông mà chúng ta bé nhỏ, ta làm được gì để biển vợi nỗi đau.
Con yêu biển bố đưa con ra biển. Bố vui niềm vui của con mà ái ngại trong lòng.
Biển Tổ quốc mình đang bị che tầm nhìn con ạ. Lớn lên con sẽ hiểu vì sao.
Vẫn cứ thế những mùa hè con mong biển. Bố mẹ phân vân ta đi biển nơi nào.
Trên sóng cát con vui đùa với biển. Sóng vờn chân con và nắng chiếu trên đầu.
Khoảnh khắc ấy đẹp trong từng chi tiết. Vị ngọt tuổi thơ đâu chỉ là tiếng mẹ à âu!
Sầm Sơn -Hà Nội 7/2016

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2016
Khai giảng lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp phòng năm 2016 cho viên chức quản lý Phòng nghiên cứu tại các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Thực hiện Quyết định số 475/QĐ-KHXH ngày 30 tháng 3 năm 2016 của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), sáng ngày 20/7/2016, tại trụ sở 1B, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Ban Tổ chức - Cán bộ Viện Hàn lâm tổ chức lễ khai giảng lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp phòng năm 2016 dành cho đội ngũ viên chức quản lý cấp phòng (khối phòng nghiên cứu).
TS. Phạm Minh Phúc, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ
phát biểu khai giảng lớp học |
Tới dự Lễ khai giảng có: TS. Phạm Minh Phúc, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ; PGS.TS. Đào Thị Ái Thi, Phó Hiệu trưởng Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ); cùng sự góp mặt đông đủ của các đồng chí lãnh đạo cấp phòng của Ban Tổ chức - Cán bộ và các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm.
Thừa ủy quyền của Lãnh đạo Viện Hàn lâm, phát biểu khai giảng lớp học, TS. Phạm Minh Phúc nêu rõ mục đích và tầm quan trọng của lớp học: Trong hệ thống quản lý bộ máy nhà nước cũng như đối với Viện nghiên cứu và các tổ chức có chức năng nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm, phòng là đơn vị cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị (nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách và đào tạo sau đại học) của các đơn vị. Do vậy, bên cạnh uy tín và đạt trình độ chuẩn chuyên môn theo quy định tại Quy chế bổ nhiệm của Viện Hàn lâm thì đội ngũ quản lý cấp phòng cần phải trau dồi các kỹ năng về công tác lãnh đạo, quản lý. Lớp học này sẽ cung cấp những kiến thức, kỹ năng liên quan đến phân tích, phát triển tổ chức; áp dụng pháp luật có liên quan đến công tác lãnh đạo, quản lý; các kỹ năng tham mưu, lập kế hoạch, phân công, giao nhiệm vụ, triển khai và kiểm tra, giám sát hoạt động của phòng... cho các viên chức lãnh đạo cấp phòng nhằm nâng cao năng lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ đặt ra. Phó Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ mong muốn toàn thể học viên sẽ tập trung lĩnh hội các kiến thức, tích cực trao đổi, thảo luận về kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp phòng từ những giảng viên đầy tâm huyết, có nhiều kinh nghiệm của Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ và Học viện Hành chính Quốc gia; tuân thủ nghiêm túc, đầy đủ qui định của lớp học để đạt kết quả cao nhất.
TS. Phạm Xuân Hoàng, học viên lớp học
phát biểu tại buổi lễ |
Toàn cảnh Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo,
quản lý cấp phòng |
Đại diện học viên, phát biểu tại buổi lễ, TS. Phạm Xuân Hoàng, Trưởng phòng Phòng Thông tin Chính trị và các vấn đề chiến lược phát triển, Viện Thông tin Khoa học xã hội, trân trọng cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của Lãnh đạo Viện Hàn lâm, Ban Tổ chức - Cán bộ và các giảng viên đối với lớp học, và nhấn mạnh: kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nội dung chính của lớp học, là vấn đề trọng tâm và hết sức cần thiết, đáp ứng nhu cầu của các học viên của tất cả các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm; đồng thời mong muốn được lĩnh hội thêm những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất cho viên chức lãnh đạo, quản lý cấp phòng, góp phần vận dụng hiệu quả trong quá trình công tác.
Ngay sau lễ khai giảng, các học viên được lắng nghe bài giảng đầu tiên của Giảng viên cao cấp - PGS.TS. Đào Thị Ái Thi với chuyên đề: Kiến thức và kỹ năng lãnh đạo cấp phòng./.
Nguyễn Thu Trang
20/07/2016
Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016
TÂM THIỀN

Rất thú vị với Phạm Sĩ An, một người nghiên cứu kinh tế học lại quan tâm nhiều đến câu chuyện thiền (Zen) và những chuyện đường biên của kinh tế. Hôm qua trao đổi chat chít, hẹn với đồng chí ấy về cái gọi là "tâm thiền" mà chưa viết ra được, đại loại có 3 ghi chú ngắn về Tâm thiền:
- Thái độ sống chủ về cái tĩnh. Đạt sự cân bằng và hài hòa là căn bản và chủ đạo, vượt lên cái động.
- Trạng thái nội tâm không dao động trước cảnh và tình, không câu chấp vào nhẽ sự nhỏ nhặt, tầm thường của cuộc sống sinh hoạt vật chất.
- Tâm và cảnh như nhất, cảnh được thanh lọc một cách đẹp đẽ qua sự kiên cố (Định) của tâm.
Đấy là những hiểu biết hạn hẹp của mình về một trạng thái/cảnh huống không dễ gì gọi tên.
Sáng nhớ ra chuyện này, có mấy câu tặng đ/c An đọc chơi.
"AN TRÚ HIỆN TẠI"(*)
- Trạng thái nội tâm không dao động trước cảnh và tình, không câu chấp vào nhẽ sự nhỏ nhặt, tầm thường của cuộc sống sinh hoạt vật chất.
- Tâm và cảnh như nhất, cảnh được thanh lọc một cách đẹp đẽ qua sự kiên cố (Định) của tâm.
Đấy là những hiểu biết hạn hẹp của mình về một trạng thái/cảnh huống không dễ gì gọi tên.
Sáng nhớ ra chuyện này, có mấy câu tặng đ/c An đọc chơi.
"AN TRÚ HIỆN TẠI"(*)
Vì chưa đạt tới "tâm thiền"
Nên ta thường dao động biến thiên với đời
Vượt lên nghịch cảnh cuộc thời
An nhiên, tự tại là "chơi" cuộc thiền !
Nên ta thường dao động biến thiên với đời
Vượt lên nghịch cảnh cuộc thời
An nhiên, tự tại là "chơi" cuộc thiền !
Thiền là một trạng thái đẹp đẽ. Càng động, chịu áp lực và căng thẳng, con người càng mong có được khoảnh khắc Thiền. Nhưng trong cuộc đời biến đổi phù du, đầy danh lợi cám dỗ, những yêu ghét thường trực, những thị phi quấy nhiễu, một thân phận người như cỏ cây trước gió, hỏi mấy ai đạt tới Tâm thiền !
Đó hình như là cảnh giới của các bậc chân tu đắc đạo.
(*) Chữ dùng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Đó hình như là cảnh giới của các bậc chân tu đắc đạo.
(*) Chữ dùng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016
THƯƠNG HOÀI MIỀN TRUNG
THƯƠNG HOÀI MIỀN TRUNG
(Hôm qua, nguyên nhân về cá chết hàng loạt đã rõ ràng. Nay nhân một cựu sinh viên nhắn tin cho tôi nói: "chỗ e bây giờ khó khăn kinh tế lắm. Nhưng dân thì vẫn yên. Chỉ có khổ và khó khăn...". Tôi tự hỏi, thảm hoạ này liệu có làm dân miền Trung gục ngã ?
Bài tản mạn này tôi viết trong những ngày miền Trung đang hứng cơn "bão" độc tố, nay tôi post lên đây cả nhà cùng đọc.
Cả nước sẽ bao giờ mới hết nhìn miền Trung với con mắt thương cảm. Dân miền Trung bao giờ mới vực dậy đi lên??? )
***
(Hôm qua, nguyên nhân về cá chết hàng loạt đã rõ ràng. Nay nhân một cựu sinh viên nhắn tin cho tôi nói: "chỗ e bây giờ khó khăn kinh tế lắm. Nhưng dân thì vẫn yên. Chỉ có khổ và khó khăn...". Tôi tự hỏi, thảm hoạ này liệu có làm dân miền Trung gục ngã ?
Bài tản mạn này tôi viết trong những ngày miền Trung đang hứng cơn "bão" độc tố, nay tôi post lên đây cả nhà cùng đọc.
Cả nước sẽ bao giờ mới hết nhìn miền Trung với con mắt thương cảm. Dân miền Trung bao giờ mới vực dậy đi lên??? )
***
Hình như muôn đời nay, miền Trung đối mặt với những thảm họa do thiên tai, chủ yếu là bão, lũ, thì những năm gần đây, trong hướng phát triển đi lên người miền Trung đang phải gồng mình chống đỡ không ít “nhân tai”. Sự kiện biển bị nhiễm độc, cá chết nổi trắng bờ mới đây thực sự là một nhân tai. Oái ăm, đau khổ với Vũng Áng nói riêng, với 4 tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế) nói chung chính là ở cái nhân tai này.
Nước biển nhiễm độc, cá 4 tỉnh miền Trung chết lăn quay, phơi trắng bờ biển. Dân tình bức xúc, muôn nơi thương cảm miền Trung. Những ngư dân quanh năm một nắng hai sương bám biển, nay nhìn cá chết, biển vắng mà nước mắt lặn vào trong chẳng biết làm gì.
Trong khi các cơ quan của bộ ngành và Hà Tĩnh tiến hành kiểm tra xác minh, dân chưa có câu trả lời có trách nhiệm rõ ràng, dư luận nghi ngờ hướng vào đổ lỗi cho Formosa thì ông Chu Xuân Phàm- Phòng Đối ngoại của Formosa làm nóng dư luận khi trả lời đầy thách thức: biển cá tôm và nhà máy, chọn cái này thì mất cái kia!
Dân chưa được cảm thông với mất mát với những thiệt hại nhiều tỉ đồng, chưa được hỗ trợ để tiếp tục mưu sinh thì lại trào dâng lên nỗi uất hận. Hóa ra người ta đến đây dựng xây nhà máy chỉ vì biết đến ích lợi của họ, họ đâu có quan tâm đến sống chết của biển, ngư trường mưu sinh của hàng vạn dân dọc duyên hải miền Trung.
Hôm nay những cái cúi đầu của lãnh đạo tập đoàn Formosa (mà đáng lẽ ra phải sớm hơn) cũng đã không làm nguôi ngoai cái giận trào dâng trong lòng người. Dân phản đối Formosa, dân biểu tình phản đối trước cổng ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đòi tẩy chay Formosa. Tỉnh sẽ xử lý ra sao với khủng hoảng này, trong khi mấy ngày hôm nay những sự im lặng của lãnh đạo tỉnh vẫn gợi lên nhiều câu hỏi trong lòng dân ! Mà hình như câu chuyện vượt khỏi tầm kiểm soát của tỉnh, một cuộc khủng hoảng lớn hơn: khủng hoảng quản trị rủi ro quốc gia.
Khu công nghiệp thì lớn, phải di dời dân một lượng dân lớn, lấy mặt bằng hàng triệu m vuông đất, xây hoành tráng cái gì ở trong như một vùng cấm người Việt bất khả xâm phạm. Lợi ích của khu công nghiệp mang lại cho dân, dân chưa thấy được hưởng lợi ở đâu, nhưng những mất mát, thiệt đơn thiệt kép mà dân thấy là khá rõ, đó là làm mất đi nguồn hải sản để đánh bắt và gây nên sự ô nhiễm trầm trọng của môi trường biển. Hệ lụy theo nhận định của chuyên gia không chỉ một sớm một chiều mà còn mãi dài lâu, nếu các tiêu chuẩn về thả xải tiêu độc không được đảm bảo và kiểm tra nghiêm ngặt. Chưa kể những độc tố lưu lại dưới đáy biển tiếp tục phản ứng và gây ra những hệ lụy môi trường khó có thể tính được.
Trong mấy ngày cá chết, nhân dân khắp cả nước thương Miền Trung. Bốn tỉnh nghèo Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế và nhiều tỉnh miền Trung khác - nguồn lợi sống phần lớn nhờ biển nay lại hứng chịu thiệt thòi chưa biết tính tiếp kế sinh nhai ra sao. Những lồng cá trơ trọi, những quán hàng biển đìu hiu vắng khách, những ánh mắt dõi về phía biển đau đáu, lo toan.
Mưa dông, bão lũ đã kinh niên hứng chịu đã đành, nhưng khủng hoảng thất thiệt như thế này có lẽ cũng là lần đầu tiên phải đối mặt, người miền Trung bất ngờ, không kịp phản ứng, dân trắng tay, lòng se sắt lòng.
Có nhất định nỗi đau thương mất mát như vậy dồn dập tới miền Trung?.
Sao chúng ta không có cơ may quản trị khủng hoảng phòng xa khi đặt những công trình lớn cỡ như vậy đặt gần nơi môi trường sống của dân. Cái gì là trong tầm tay, cái gì có thể tránh xa và phòng tránh từ đầu, vì một tương lai phát triển bền vững ít rủi ro hơn sao đã không được tính đến?
Dân miền Trung đã chịu nhiều mất mát. Là nơi của những “địa đầu tuyến lửa”, “lũy thép lũy hoa”, chí khí cách mạng hào hùng, sẵn sàng đi tiên phong, hi sinh mất mát lớn lao nhất trong chiến tranh vệ quốc...nhưng sau chiến tranh, hình như chưa lúc nào miền Trung thực sự có yên bình.
Cả nước đã hướng về miền Trung ruột thịt chia sẻ ngọt bùi khi bão, giông, lụt lộị. Năm 2010, trong lũ lụt miền Trung tôi có dịp trở về cứu trợ, thấy thương dân mình quá đỗi. Những người nông dân chân chất đôn hậu đối mặt với nhọc nhằn lam lũ kinh niên. Chuyện đó đâu có thể trách Trời.
Nhưng với sự cố biển dính độc hôm nay, nhiều con em miền Trung đi xa biết được nguyên nhân đã phẫn uất, tức giận. Đáng trách lắm những nhân tai.
Nhiều bà con không phải miền Trung thì xót xa đồng cảm tự đáy lòng. Thêm một lần thương cùng miền Trung ruột thịt. Những vần thơ trên mạng, những status tức giận, những chia sẻ dồng dập trên facebook nói về miền Trung, đòi sự công bằng cho dân miền Trung.
Những người dân quê, dù đi đâu về đâu họ cũng không thể bỏ được môi trường sống quen thuộc của mình là ruộng đồng, vườn tược, là sông biển, là gò đồi. Nếu không mang đến cho dân thuận lợi tốt nhất thì đừng lấy đi của dân những cơ hội và càng không nên mang đến những thách thức, rủi ro.
Những ngày nay, miền Trung đang đối mặt với cú shock nhiễm độc biển mà chưa biết lúc nào khắc phục được. Trong ngày hôm nay thôi, khi Formosa cúi đầu xin lỗi người dân, có tờ báo đưa tin biển đã trong trở lại, dân hoài nghi. Phát ngôn của ngài thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường tại cuộc họp báo chiều tối ngày 27.4 chưa thuyết phục. Nhiều câu hỏi nóng xung quanh chuyện cá chết, biển nhiễm độc còn tiếp tục và cần sớm được các cơ quan chức năng trả lời rốt ráo để an lòng dân miền Trung, lòng dân cả nước đang quan tâm tới miền Trung.
Thương về miền Trung, người Miền Trung rất cần tiếp tục đón nhận tình yêu thương. Nhưng người viết bài này tự hỏi, trong bước đường hội nhập hôm nay, đứng trước nhiều những cơ hội phát triển bền vững mà miền Trung vẫn chưa thể đi lên.
Miền Trung ơi, lòng ta phải cứ thương hoài !
Nước biển nhiễm độc, cá 4 tỉnh miền Trung chết lăn quay, phơi trắng bờ biển. Dân tình bức xúc, muôn nơi thương cảm miền Trung. Những ngư dân quanh năm một nắng hai sương bám biển, nay nhìn cá chết, biển vắng mà nước mắt lặn vào trong chẳng biết làm gì.
Trong khi các cơ quan của bộ ngành và Hà Tĩnh tiến hành kiểm tra xác minh, dân chưa có câu trả lời có trách nhiệm rõ ràng, dư luận nghi ngờ hướng vào đổ lỗi cho Formosa thì ông Chu Xuân Phàm- Phòng Đối ngoại của Formosa làm nóng dư luận khi trả lời đầy thách thức: biển cá tôm và nhà máy, chọn cái này thì mất cái kia!
Dân chưa được cảm thông với mất mát với những thiệt hại nhiều tỉ đồng, chưa được hỗ trợ để tiếp tục mưu sinh thì lại trào dâng lên nỗi uất hận. Hóa ra người ta đến đây dựng xây nhà máy chỉ vì biết đến ích lợi của họ, họ đâu có quan tâm đến sống chết của biển, ngư trường mưu sinh của hàng vạn dân dọc duyên hải miền Trung.
Hôm nay những cái cúi đầu của lãnh đạo tập đoàn Formosa (mà đáng lẽ ra phải sớm hơn) cũng đã không làm nguôi ngoai cái giận trào dâng trong lòng người. Dân phản đối Formosa, dân biểu tình phản đối trước cổng ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đòi tẩy chay Formosa. Tỉnh sẽ xử lý ra sao với khủng hoảng này, trong khi mấy ngày hôm nay những sự im lặng của lãnh đạo tỉnh vẫn gợi lên nhiều câu hỏi trong lòng dân ! Mà hình như câu chuyện vượt khỏi tầm kiểm soát của tỉnh, một cuộc khủng hoảng lớn hơn: khủng hoảng quản trị rủi ro quốc gia.
Khu công nghiệp thì lớn, phải di dời dân một lượng dân lớn, lấy mặt bằng hàng triệu m vuông đất, xây hoành tráng cái gì ở trong như một vùng cấm người Việt bất khả xâm phạm. Lợi ích của khu công nghiệp mang lại cho dân, dân chưa thấy được hưởng lợi ở đâu, nhưng những mất mát, thiệt đơn thiệt kép mà dân thấy là khá rõ, đó là làm mất đi nguồn hải sản để đánh bắt và gây nên sự ô nhiễm trầm trọng của môi trường biển. Hệ lụy theo nhận định của chuyên gia không chỉ một sớm một chiều mà còn mãi dài lâu, nếu các tiêu chuẩn về thả xải tiêu độc không được đảm bảo và kiểm tra nghiêm ngặt. Chưa kể những độc tố lưu lại dưới đáy biển tiếp tục phản ứng và gây ra những hệ lụy môi trường khó có thể tính được.
Trong mấy ngày cá chết, nhân dân khắp cả nước thương Miền Trung. Bốn tỉnh nghèo Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế và nhiều tỉnh miền Trung khác - nguồn lợi sống phần lớn nhờ biển nay lại hứng chịu thiệt thòi chưa biết tính tiếp kế sinh nhai ra sao. Những lồng cá trơ trọi, những quán hàng biển đìu hiu vắng khách, những ánh mắt dõi về phía biển đau đáu, lo toan.
Mưa dông, bão lũ đã kinh niên hứng chịu đã đành, nhưng khủng hoảng thất thiệt như thế này có lẽ cũng là lần đầu tiên phải đối mặt, người miền Trung bất ngờ, không kịp phản ứng, dân trắng tay, lòng se sắt lòng.
Có nhất định nỗi đau thương mất mát như vậy dồn dập tới miền Trung?.
Sao chúng ta không có cơ may quản trị khủng hoảng phòng xa khi đặt những công trình lớn cỡ như vậy đặt gần nơi môi trường sống của dân. Cái gì là trong tầm tay, cái gì có thể tránh xa và phòng tránh từ đầu, vì một tương lai phát triển bền vững ít rủi ro hơn sao đã không được tính đến?
Dân miền Trung đã chịu nhiều mất mát. Là nơi của những “địa đầu tuyến lửa”, “lũy thép lũy hoa”, chí khí cách mạng hào hùng, sẵn sàng đi tiên phong, hi sinh mất mát lớn lao nhất trong chiến tranh vệ quốc...nhưng sau chiến tranh, hình như chưa lúc nào miền Trung thực sự có yên bình.
Cả nước đã hướng về miền Trung ruột thịt chia sẻ ngọt bùi khi bão, giông, lụt lộị. Năm 2010, trong lũ lụt miền Trung tôi có dịp trở về cứu trợ, thấy thương dân mình quá đỗi. Những người nông dân chân chất đôn hậu đối mặt với nhọc nhằn lam lũ kinh niên. Chuyện đó đâu có thể trách Trời.
Nhưng với sự cố biển dính độc hôm nay, nhiều con em miền Trung đi xa biết được nguyên nhân đã phẫn uất, tức giận. Đáng trách lắm những nhân tai.
Nhiều bà con không phải miền Trung thì xót xa đồng cảm tự đáy lòng. Thêm một lần thương cùng miền Trung ruột thịt. Những vần thơ trên mạng, những status tức giận, những chia sẻ dồng dập trên facebook nói về miền Trung, đòi sự công bằng cho dân miền Trung.
Những người dân quê, dù đi đâu về đâu họ cũng không thể bỏ được môi trường sống quen thuộc của mình là ruộng đồng, vườn tược, là sông biển, là gò đồi. Nếu không mang đến cho dân thuận lợi tốt nhất thì đừng lấy đi của dân những cơ hội và càng không nên mang đến những thách thức, rủi ro.
Những ngày nay, miền Trung đang đối mặt với cú shock nhiễm độc biển mà chưa biết lúc nào khắc phục được. Trong ngày hôm nay thôi, khi Formosa cúi đầu xin lỗi người dân, có tờ báo đưa tin biển đã trong trở lại, dân hoài nghi. Phát ngôn của ngài thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường tại cuộc họp báo chiều tối ngày 27.4 chưa thuyết phục. Nhiều câu hỏi nóng xung quanh chuyện cá chết, biển nhiễm độc còn tiếp tục và cần sớm được các cơ quan chức năng trả lời rốt ráo để an lòng dân miền Trung, lòng dân cả nước đang quan tâm tới miền Trung.
Thương về miền Trung, người Miền Trung rất cần tiếp tục đón nhận tình yêu thương. Nhưng người viết bài này tự hỏi, trong bước đường hội nhập hôm nay, đứng trước nhiều những cơ hội phát triển bền vững mà miền Trung vẫn chưa thể đi lên.
Miền Trung ơi, lòng ta phải cứ thương hoài !
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





