Paxuho

Có một miền minh triết nhưng rất xa...!

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

YÊU CÙNG GIỌNG NGHỆ

Chi, mô, răng, rứa... lời đầu miệng
Nỏ, hẹ, ê, hầy... tiếng đầu môi
Giọng Nghệ đó, nghe chút nhọc nhằn
Chỉ có người Nghệ mới hiểu nhau cùng tiếng ấy
*
Buổi quen nhau cứ hỏi hoài điều anh nói
Cứ như hai người đến từ hai thế giới
Bạn bè hỏi sao không đổi giọng
Cho dễ nghe giao tiếp với muôn người
Đôi khi chỉ biết gãi đầu cười
Ngập ngừng lắm, nói sao cho dễ hiểu
*
Cái giọng ấy biết mần răng thay đổi
Thuở cha sinh mẹ nở đã ri rồi
Có chăng hỏi đất, hỏi trời
Mần răng lại rứa giọng người quê tôi
*
Tiếng quê hương muôn đời đã thế
Một tiếng thân thương bao nốt nhạc lòng
Âm nghe nặng nặng, líu lo như chim
Em thương thì chịu vậy, yêu cùng tiếng anh
(P.T.H). Vanhoalamhong.blogspot.com 

Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi không hiểu vẫn ấn tượng


Giọng nói đậm chất quê hương nhưng lại gây ấn tượng mạnh với mọi người.
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Những câu nói xứ Nghệ nghe mãi vẫn không hiểu
Tác giả bài viết: Dung Nhi
 NguồnBáo Đất Việt 

NỖI LÒNG NGƯỜI HÀ TĨNH XA QUÊ

Hà Tĩnh có gì để tự hào!
Nơi đất cỗi cằn, quanh năm bão lũ
Ấy thế mà người Hà Tĩnh thương quê gan ruột
Yêu cháy lòng những lúc tha hương
*
Người Hà Tĩnh ở muôn phương
Vì mưu sinh mà thành cách trở
Vì tha hương mà thành nhung nhớ
Những đêm khóc thầm mong ngóng phía quê xa
*
Người Hà Tĩnh trong gian lao
Vẫn ánh lên những niềm hy vọng
Trăn trở tìm niềm vui lẽ sống
Dẫu còn nghèo nhưng chẳng thiếu niềm tin
*
Người Hà Tĩnh đi xa lòng luôn đinh ninh
Mình người xứ Nghệ
Quê hương khắc nghiệt muôn đời vốn thế
Nhưng chẳng ai ra đi mà chối bỏ bao giờ!
Hà Nội, 10/2015
P.T.H

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

ĐÂU CẦN CHI PHẢI CÓ PHÉP PHÂN THÂN!

Nói thay lời người con gái
Tặng các tình yêu ở xa nhau
              Ước gì ta có phép phân thân
Để xa nhau chỉ là chuyện nhỏ
Để người đi người còn như ở
Để ta bên nhau trọn vẹn mỗi ngày

Không có chiều nào dài bằng khoảng cách tình yêu
Chẳng đếm chẳng đo chỉ tơ vò là nhớ
Gửi vào mây gió trăng những niềm mơ
Những nốt nhạc lòng khao khát đợi chờ

Anh như con thuyền đi xa
Em bến đợi với ngày xưa cũ
Kỷ niệm ấp iu, tháng ngày canh lửa
Đợi thuyền anh cập bến trở về


Dài, rộng, sâu, xoáy trào nhung nhớ
Nỗi lòng em và nhịp thở của anh
Ta hướng về nhau những ngày xanh
Nguyện cầu cho nhau những an lành

Cứ thế ngày đi, tháng năm gần lại
Chút đôi khi hoang hoải giữa mùa trôi
Ta với ta nên ta chẳng đơn côi
Ta vẫn sống với niềm yêu vời vợi

Nén khoảng cách, lòng ta chờ đợi
Gửi yêu thương theo link net mỗi ngày
Dẫu ngái xa ta vẫn rất gần
Đâu cần chi phải có phép phân thân


HN, 11/2015

P.T.H

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

MÃI KHÔNG CHỊU LỚN

Sáng sớm, nhận được cmt của một cựu sv nhắc câu "đất nước mãi không chịu lớn", ừ không chịu lớn thật, hay là thành phần chậm tiến giống như mình ý, ăn bao nhiêu cơm gạo mà cứ còi mãi!Viết tiếp stt hôm qua về sự bắt kịp của VN với thế giới. Chuyện bắt kịp, đuổi kịp là chuyện thường, nhưng với nước mình hiện tại, nói ra nghe cứ cao sang. Một nguyên tắc của vận động viên điền kinh để đuổi kịp đối thủ thì mình phải tăng tốc, nhưng hiện giờ sức anh ta yếu,kỹ thuật anh ta kém, nghĩa là tốc độ và nhịp độ không tương thích với đối thủ thì anh ta cứ mút mùa mà đuổi đối thủ khỏe hơn anh. Một khả năng rất tươi sáng là anh ta đuổi kịp với điều kiện anh ta lớn nhanh như thổi kiểu Thánh Gióng xưa kia! 
Nhưng mà:
Thánh Gióng nay đã về Trời
Mơ ông thì lại cầu nơi Thiên Đình
Cái cần là tự sức mình
Cứ cầu viện trợ lớn "phình" được không!
Có mấy tấm biếm họa trên internet nhìn lại thú. Không thể nhịn cười được.
Và vẫn phải cười, dù đôi khi đời buồn những niềm đau!
Ai ngoài nỗi buồn cá nhân, lại thêm nỗi buồn đất nước không chịu lớn?!

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Về một số yêu cầu mang tính bổn phận trong Nho giáo và ảnh hưởng của chúng ở Việt Nam hiện nay

1. Một số yêu cầu mang tính bổn phận theo tư tưởng của Nho giáo đối với các quan hệ gia đình và xã hội
Trước hết cần phải thấy rằng, những yêu cầu có tính bổn phận của Nho giáo xuất phát từ nội dung căn bản của Nho giáo đó là thuyết "Tam cương, ngũ thường". "Tam cương" là quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ chồng và "ngũ thường" là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín". Xoay quanh các mối quan hệ cơ bản gọi là "tam cương" ấy, Khổng Tử đề ra các yêu cầu về "ngũ thường" với những yêu cầu khắt khe về nghĩa vụ, bổn phận của các tầng lớp trong xã hội và đây chính yếu là sợi dây ràng buộc, điều tiết các hành động của con người. "Tam cương, ngũ thường", được coi là 3 mối quan hệ cơ bản của xã hội và 5 đức tính căn cốt của đạo làm người của đạo Nho.
Về sau, "tam cương, ngũ thường" dần đã trở thành nội dung cốt lõi để các triều đại phong kiến định hình nên thứ bậc trong xã hội, điều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhà Chu trước đây. Tuy các triều đại phong kiến theo mức độ bảo thủ ít hay nhiều và ở những cấp độ khác nhau đã nối tiếp tư tưởng Nho học, có "gia giảm" ít nhiều để cai trị và ổn định xã hội, song "Cương - Thường" đã trở thành nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của thiên tử trong xã hội lấy Nho giáo làm lý thuyết chính.
Nho giáo cũng phân biệt xã hội làm hai loại người, người quân tử và kẻ tiểu nhân. Người quân tử phải biết giữ khí tiết của mình và kẻ tiểu nhân phải biết thân phận của mình. Hoặc Nho giáo đề cao vị thế và vai trò của nam giới trong gia đình và ngoài xã hội; phân biệt, hạ thấp thân phận phụ nữ như quan niệm "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" (một con trai là có, mười con gái cũng như không), "phu tử tòng tử" (chồng chết thì theo con). Phụ nữ trong con mắt của Nho giáo là hạng tiểu nhân "khó dạy".
Những quan niệm này đã làm cho Nho giáo là một điển hình của phân biệt đẳng cấp, nặng tính gia trưởng, tồn tại sự vô lý và thiếu nhân đạo đối với con người.
Trong các nội dung xoay quanh ứng xử các mối quan hệ tam cương đó, chúng tôi đề cập đến hai lí luận căn bản của Nho giáo là quan niệm về lễ và về chính danh. Theo chúng tôi, đây là những quan niệm thể hiện rõ những yêu cầu về bổn phận của con người trong xã hội Nho giáo, là một thứ ràng buộc vừa có mặt tích cực nhưng cũng đầy bảo thủ, thậm chí cực đoan.
 Những chuẩn mực của Lễ: Trong "ngũ thường", "ngũ luân"- "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín", nổi lên tư tưởng về "lễ". Phạm trù lễ, theo Nho giáo, là các quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người. Người quân tử trong xã hội luôn phải đề cao việc "khắc kỷ, phục lễ, vi nhân" (giữ mình, khôi phục lễ giáo để làm người).
Lễ là nội dung có ý nghĩa và giá trị chi phối các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội. Trong quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ - chồng Nho giáo đều có những quan niệm khá cụ thể. Ví dụ, bề tôi phải trung với vua, con phải hiếu với cha mẹ, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin. Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuân theo. Lễ là sợi dây buộc chặt con người với chế độ phong kiến tập quyền. Khổng Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ. Thậm chí có những xã hội đã đề cao các tư tưởng ấy một cách cực đoan, khuôn con người vào những luật lệ khắc nghiệt như xã hội Trung Quốc đời Đông Hán. Thời kỳ này, Đổng Trọng Thư đã đề cao lòng trung thành một cách tuyệt đối, coi đó là phạm trù đạo đức bất di bất dịch tới mức "Vua bảo thần tử, thần bất tử, bất trung" (vua bảo thần chết, thần không chết là bất trung), buộc bề tôi phải trung thành tuyệt đối với vua, sẵn sàng lấy cái chết để chứng minh lòng trung ấy. Và thời kỳ này đã đẻ ra không ít những tấm gương "ngu trung", "ngu hiếu".
Hoặc đối với phụ nữ, Nho giáo đề cao tứ đức "công, dung, ngôn, hạnh", coi đó là chuẩn mực của người phụ nữ, đã khuôn người phụ nữ vào lễ giáo, kiểu trong hôn nhân thì "cha mẹ đặt đâu con người đấy". Nam, nữ không có tự do trong quan hệ tình ái, đời sống vợ chồng. Nho giáo đề cao sự trinh tiết của người phụ nữ, thậm chí là "thủ tiết thờ chồng".
Tính tích cực trong tư tưởng lễ của Nho giáo với các xã hội ứng dụng Nho giáo trước đây thể hiện ở chỗ, lễ đã đạt tới mức độ sâu sắc, trở thành thước đo, đánh giá phẩm hạnh con người. Việc giáo dục con người theo lễ đã tạo thành một dư luận xã hội rộng lớn, biết quý trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ. Lễ không dừng lại ở lý thuyết, ở những lời giáo huấn mà đã đi vào hành động của con người, đến mức trong các triều đại phong kiến xưa, nhiều người thà chết chứ không bỏ lễ. Nhờ tin và làm theo chuẩn mực của lễ mà các xã hội theo Nho giáo đã giữ được yên ổn trong gia đình và trật tự ngoài xã hội trong khuôn khổ của chế độ phong kiến. Lễ trở thành điều kiện bậc nhất trong việc quản lý đất nước và gia đình.
Tuy nhiên, như trên đã phân tích, lễ cũng bị đẩy lên cực đoan làm xơ cứng các quan hệ xã hội, đã biến lễ trở thành sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ và hành động, trở thành lực cản sự phát triển của xã hội và là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ (2).
Yêu cầu về chính danh: Hầu hết các nhà Nho, các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng Tử đều thừa nhận rằng học thuyết Chính danh là một phát kiến mới của Khổng Tử về phương diện chính trị và luân lý xã hội. Do chính ngài quan sát thấy được tình trạng lộn xộn, mất tôn ti trật tự, trên không ra trên, dưới không ra dưới; vua không ra vua, tôi không ra tôi, "bá đạo nổi lên lấn át vương đạo"… nên ngài mới đề ra học thuyết Chính danh với mong muốn chấn chỉnh tình trạng suy vi của xã hội đương thời. Cũng là nhằm mục đích duy trì các quan hệ tam cương.
Khi Tử Lộ hỏi: "Nếu vua nước Vệ đợi Thầy về đặng giúp ngài cai trị. Thầy làm gì trước hết? Đức Khổng Tử đáp: Ắt là ta sẽ làm cho ra chính danh chính phận" . Tuy nhiên, trong tình hình thực tế thời đó, những tư tưởng chính danh định phận của Khổng Tử cũng khó được áp dụng.
Câu nói của Khổng Tử về Chính danh khi ông trả lời học trò mà thường được người đời sau nhắc lại như một phương châm để người quân tử chấn chỉnh xã hội đó là: "nếu danh mà chẳng chính, chẳng hạp nghĩa, thì lời nói chẳng thuận; lời nói chẳng thuận thì công việc chẳng thành, thì lễ tiết và âm nhạc chẳng thạnh vượng; nếu lễ tiết và âm nhạc chẳng thạnh vượng, tức là chẳng có sự thạnh vượng và niềm hòa khí; nếu lễ tiết và âm nhạc chẳng thạnh vượng, tức là khi, thì sự hình phạt chẳng đúng phép; nếu sự hình phạt chẳng đúng phép, thì dân biết chỗ nào mà đặt tay chân. Cho nên người quân tử, tức nhà cầm quyền xưng danh thì đúng với phận, với nghĩa; đã xưng đúng với danh phận, thì phải tùy theo đó mà làm. Cho nên người quân tử rất dè dặt với việc xưng danh gọi phận"
Chính danh và lễ có quan hệ với nhau. Mục đích của chính danh của Khổng Tử xét cốt yếu là để giữ lễ, thực hành lễ. Lễ của kẻ trên đối với người dưới và ngược lại. Chính danh là tiền đề để lễ nhạc hưng vượng lên; lễ nhạc hưng vượng chính là cái bản để trị nước. Chỉ vì lễ nhạc không hưng vượng, hình phạt mới không trúng, hình phạt không trúng thì dân không biết phải làm gì?
Vua Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về cách cai trị, Khổng Tử nói: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử" (Nghĩa là, vua ở hết phận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con). Tức là người nào ở vị trí nào thì phải ứng xử ở vị trí đó, không được lẫn lộn, không được tùy tiện, phải tuân theo phép tắc, quy củ của xã hội đã quy định.
Những tư tưởng trên đây, chúng ta thấy Khổng Tử rất coi trọng danh phận trong vòng trật tự mà nguồn gốc tư tưởng này đã có trước thời Khổng Tử (tức thời nhà Chu), nhưng nó bị biến dạng dưới thời Khổng Tử, do đó, ông đề cao học thuyết chính danh để chỉnh trị lại trật tự xã hội, sự cai trị. Đặt sự vật đúng tên gọi của nó nhằm giúp xã hội vận hành một cách ổn định.
2. Những ảnh hưởng của yêu cầu về bổn phận trong tư tưởng Nho giáo đối với cá nhân trong gia đình và ngoài xã hội Việt Nam hiện nay
Cách đây chưa lâu, nhà nghiên cứu Nho giáo Nguyễn Đức Sự cho rằng, "Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của chế độ phong kiến nửa thuộc địa. Từ đây, có thể nói, trên bình diện là một vũ khí tư tưởng của giai cấp thống trị và trên bình diện là một tôn giáo với những nghi lễ cung đình phức tạp, Nho giáo không còn tồn tại nữa. Nhưng, trong xã hội Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám, tàn dư và "âm hồn" của Nho giáo vẫn còn sống một cách dai dẳng trong các quan hệ xã hội, trong sự ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ cúng tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc. Ngày nay, nhân dân Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Song, những tàn dư và "âm hồn" của Nho giáo vẫn tiếp tục tồn tại ở Việt Nam và tác động vào đời sống xã hội theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực". Điều nhận định trên đây của vị học giả này vẫn còn đúng với tình hình hiện nay khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào quốc tế.
Theo chúng tôi, hiện nay những yêu cầu nói trên của Nho giáo, được thể hiện khá rõ trong các quan hệ xã hội, cái mà nhiều người thường gọi nó là tư tưởng phong kiến, thể hiện ở mấy điểm sau:
Một là, hạn chế dân chủ trong các mối quan hệ, do thói gia trưởng vẫn còn nặng nề.
Trần Đình Hượu cho rằng, cái xã hội trật tự, phận vị nho giáo "không có chỗ cho cá nhân, không thừa nhận bình đẳng"(1). Nho giáo coi trọng tính tôn ti trật tự, thứ bậc và như vậy thường có sự thiên lệch trong các mối quan hệ, mà tính gia trưởng là một thói xấu rất cần loại trừ.
Gia trưởng là một đặc điểm nổi trội của xã hội phong kiến dưới ảnh hưởng của Nho giáo. Gia trưởng trong gia đình, dòng họ, và tính gia trưởng này dễ bề phát huy thành tính độc đoán, chuyên chế trong cai trị xã hội, ở cơ quan, đoàn thể.
Hiện nay, trong các quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan vẫn mang dấu ấn của quan hệ thứ bậc, chưa thực sự được dân chủ và cởi mở khi so sánh với xã hội phương Tây. Thậm chí nhiều quan hệ từ trên xuống, mệnh lệch phục tùng, khiến cho người cấp dưới không dám góp ý và đấu tranh với khuyết điểm, làm giảm khả năng sáng tạo, thui chột tính tự tin, tự chủ của mỗi người. Thậm chí có nơi tính gia trưởng bị đẩy lên cực đoan thành độc đoán, chuyên quyền.
Hai là, thiếu tôn trọng người phụ nữ. Do từ chỗ coi thấp vị thế của người vợ trong mỗi gia đình, người phụ nữ ngoài xã hội đã dẫn đến sự đối xử bất bình đẳng với phụ nữ, dẫn tới định kiến với phụ nữ, chưa thực sự tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển. Trong thực tế gia đình, tư tưởng xem thường phụ nữ vẫn còn khá nhiều thể hiện ở quan niệm coi trọng "con trai" dẫn tới buộc nhiều gia đình bằng mọi giá để sinh con trai; phụ nữ nội trợ, phụ nữ bếp núc dẫn tới nhiều ông chồng hạn chế phụ nữ đi làm tiếp xúc giao lưu xã hội.
Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã dẫn đến một số người lãnh đạo không tin vào khả năng của phụ nữ, ngại tiếp nhận, đề bạt nữ giới vào các vị trí cao hơn hoặc không coi trọng ý kiến phụ nữ… đó là những trở ngại cho việc đấu tranh vì quyền bình đẳng giới. Những quan niệm này vẫn còn rơi rớt tồn tại trong đầu không ít vị nam giới và đã cản trở con đường vươn lên tiến bộ của phụ nữ. Phụ nữ không có nhiều cơ hội trên con đường chính trị, đảm nhận các vị thế, trọng trách, gánh vác việc xã hội.
Những tư tưởng ràng buộc với phụ nữ đã ngấm dần trong tư tưởng phụ nữ làm cho không ít phụ nữ an phận thủ thường, thậm chí cam chịu, ngại đấu tranh với nam giới và hạn chế sự vươn lên trong xã hội.
Thậm chí, vì gia trưởng mà nhiều nam giới sẵn sàng vũ phu với vợ mình. Ngày nay, với sự tham chiếu các lý thuyết phát triển của xã hội tiến bộ và việc đề cao quyền con người trong tham gia chính trị - xã hội, phụ nữ có được vị thế xã hội lớn hơn trước trong các ngành nghề, lĩnh vực, quan hệ. Tuy nhiên, phụ nữ vẫn bị lệ thuộc vào đàn ông và chưa thực sự có được vị thế bình đẳng trong nhiều gia đình.
Ba là, việc nặng hành xử theo các chuẩn mực bổn phận đạo đức truyền thống của Nho giáo có phần cảm tính, kinh nghiệm mà thiếu sự tiếp nhận các chuẩn mực pháp luật của xã hội văn minh.
Tư duy coi trọng tình cảm, nhân nghĩa đã góp phần tạo nên chủ nghĩa duy tình, đề cao nhân đức mà thiếu coi trọng yếu tố lý và pháp lý trong ứng xử và giải quyết các vấn đề xã hội.
Tư tưởng "thân thân" (coi trọng người thân), làm cho những quan hệ có tính gia đình bị đem vào các quan hệ xã hội khiến xảy ra tình trạng nể nả, cục bộ, cản trở giải quyết vấn đề trên tư duy khoa học và minh bạch; Tư tưởng "một người làm quan, cả họ được nhờ", đã dẫn đến dựa dẫm, cục bộ, tham ô, tham nhũng, trục lợi, v.v...
Các lễ giáo phong kiến, một thời được coi là khuôn vàng thước ngọc, hiện nay vẫn còn có nhiều điểm chi phối xã hội hiện đại như tư tưởng "môn đăng hộ đối" cũng làm cho quan hệ hôn nhân trở nên vị lợi.
3. Khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của yêu cầu về bổn phận theo Nho giáo, phát huy dân chủ bình đẳng trong gia đình và xã hội Việt Nam hiện đại
Nho giáo từng tồn tại hàng nghìn năm trong xã hội Việt Nam, từng có những thời kỳ góp phần đưa xã hội đến thịnh trị như thời Lê sơ (thế kỷ XV), cũng có những thời kỳ độc tôn, những mặt hạn chế của Nho giáo được khai thác triệt để như thời Nguyễn thế kỷ XIX, tuy nhiên, trước những đòi hỏi của thời cuộc Nho giáo đã bộc lộ những suy thoái không thể tránh khỏi.
Trên thực tế, những ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn trong gia đình và ngoài xã hội Việt Nam hiện đại, cần được ứng dụng một cách hợp lý. Ví dụ, Nho giáo có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng những thiết chế về đạo đức gia đình. Và trong việc xây dựng, đề cao nền giáo dục gia đình. Gia đình mà yên ổn thì xã hội mới có thể đi lên được. Nho giáo đề cao việc "tu tề trị bình" (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Đây là những mặt tích cực cần phải nghiên cứu để kế thừa.
Ngày nay, trong bối cảnh "sức mạnh mềm" (Soft Power) Trung Hoa trỗi dậy, các học viện Khổng Tử ra đời và phát triển mạnh trên thế giới, những tư tưởng Khổng Tử trở thành nội dung nhân tố cốt lõi của các chương trình này. Hiện ở Việt Nam các chương trình đào tạo học của Học viện Khổng Tử đã được chấp nhận ở một số trường đại học, việc ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử là sự lựa chọn không thể khác. Tuy nhiên, việc dạy/ học này cũng cần có sự phê phán, cần được nhìn nhận dưới phương diện văn hóa và cần cảnh giác với các mục đích chính trị.
Sau sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 trái phép ở vùng biển chủ quyền của Việt Nam (5/2014), ở Việt Nam nổi lên tư tưởng "bài Trung", nhiều học giả đã thảo luận về cái gọi là "thoát Trung". Xét trong tình hình hiện thời, sự bức xúc với những "di sản" của Trung Hoa ở Việt Nam là điều dễ hiểu, tuy nhiên cũng cần hết sức cảnh giác. Bởi lẽ, sự ảnh hưởng của Trung Hoa truyền thống không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc...), thậm chí có quan điểm cho rằng, quốc gia phát triển như Hàn Quốc là vì vẫn duy trì và khai thác được Nho giáo. Và giữa Trung Quốc học, Hán học và Nho học, tuy có sự giao thoa nhưng không đồng nhất. Những tư tưởng của Khổng Tử với tư cách là giá trị văn hóa vẫn cần được tiếp thu phát triển với một thái độ trân trọng và có những sự lựa chọn ứng xử phù hợp với xã hội hiện nay.
Việt Nam hiện nay đang hướng tới xây dựng mô hình "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh". Việc tồn tại những tư tưởng bảo thủ, phong kiến, các định kiến về giới, v.v... là điều không đáng có. Bởi chính nó, là những lực cản dai dẳng con đường đi lên văn minh, tiến bộ. Tận dụng những mặt mạnh của các học thuyết chính trị, luân lý xã hội, trong đó có Nho giáo và triệt tiêu tính cực đoan là điều cần thiết để góp phần vào xây dựng các mối quan hệ dân chủ, bình đẳng trong xã hội ta hiện nay.
Hồ Chí Minh là một người xuất thân từ gia đình khoa bảng, am hiểu những triết lý của Nho giáo, song bản thân Người do được hấp thụ những tư tưởng đổi mới và cách mạng đã không bị ảnh hưởng bởi những hạn chế của Nho giáo về yêu cầu bổn phận mang tính khắt khe, Người đã thể hiện một nhận thức độc lập trong việc kế thừa Nho giáo, cùng với sự tiếp biến nhiều quan niệm khác nhau để phát triển văn hóa Việt Nam.
Trên cơ sở tiếp thu các bài học về hành xử của Hồ Chí Minh đối với Nho giáo, chúng tôi thấy rằng, cần coi Nho giáo bình đẳng như bao học thuyết đạo đức luân lý đã có trong lịch sử, chấp nhận cái hay cái tốt của nó, bên cạnh đó không đẩy lên cực đoan những mặt hạn chế của nó, không để chúng chi phối tư tưởng và hành động của các cá nhân trong hành xử gia đình và quan hệ xã hội trong xã hội hiện đại.
Từ việc nhận thức các hạn chế về ràng buộc bổn phận đã nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần khắc phục những cực đoan trong các yêu cầu đó về cả phương diện nhận thức và hành động, cụ thể:
Một là, coi trọng "chính danh" (danh chính trực), theo nghĩa danh phải đi liền với thực, chứ không tôn vinh và duy trì cái danh hão, bệnh hình thức chủ nghĩa, bằng mọi giá để đạt được danh vị, có danh mà không có thực; chính danh trong xã hội phải là biết thực thi bổn phận đúng chức trách, đúng vai vế của mình chứ không phải là coi trọng, chạy theo hình thức, thành tích, mang danh không chính trực đó để chưng diện xã hội và làm điều bất chính, có hại cho lợi ích của nhân dân. Hiện nay trong xã hội, không ít người núp danh, mượn danh ông nọ bà kia, để trục lợi. Đó là biểu hiện của cái lối "hư danh" và "ngụy danh", rất cần phê phán và loại trừ.
Đồng thời, trong giáo dục, cần phê phán lối học khoa cử, chạy theo bằng cấp, học để làm quan mà phải coi trọng thực học, học để tạo ra giá trị và sự đa dạng nghề nghiệp xã hội. Ngày nay xã hội đã trở nên đa nguyên giá trị. Giá trị con người phải được đánh giá từ góc độ mà con người đó đóng góp cho xã hội, bất kể ngành nghề gì. Việc tôn trọng tri thức, coi trọng nhân tài hoàn toàn không chỉ thể hiện ở việc học làm quan và tiến thân bằng con đường quan trường. Mà mỗi người cần căn cứ vào năng lực sở trường của mình để đặt đúng vị thế, làm đúng vai. Có những người chí thú với khoa học mà lại không có hứng thú chính trị và năng lực hành chính. Khoa học tôn sùng bình đẳng, tự do tư tưởng mà quan trường thì chú trọng thực thi mệnh lệnh thi hành, tuân thủ lề lối, chính sách, coi trọng việc thực hiện chủ trương kế hoạch. Không nên buộc nhà khoa học vào chốn quan trường, cũng không nên lấy quan trường để định vị giá trị nhà khoa học.
Hai là, một mặt không phủ nhận tính thứ bậc trong gia đình, vì đây là một quan hệ tự nhiên do các yếu tố huyết thống, dòng họ tạo ra; mặt khác, cần coi trọng sự bình đẳng giữa các thành viên, điều tiết thành viên bằng nguyên tắc dân chủ, cởi mở. Cần loại bỏ tư tưởng gia trưởng trong quan hệ vợ chồng, anh em, con cái, càng không để thói "gia trưởng" kiểu gia đình áp dụng trong tổ chức, tập thể, sẽ dễ dẫn tới chuyên quyền độc đoán mất dân chủ, gây nên sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển.
Ba là, bỏ định kiến với phụ nữ và vai trò của phụ nữ, nâng cao nữ quyền
Cần tiến hành các nghiên cứu khoa học về phụ nữ, và những tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức làm chủ và giải phóng bản thân của nữ giới. Phụ nữ cũng là con người, phụ nữ cần có vị thế đồng đẳng với đàn ông trong công việc gia đình, cơ hội phát triển bản thân và tham gia đóng góp vào sự phát triển xã hội.
Bốn là, đề cao những kiến thức khoa học và pháp lý trong công việc và quan hệ, loại trừ sự cảm tính, những định kiến và tính bảo thủ của các quan niệm Nho giáo trong việc điều hành và ứng xử các quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.q
Phạm Xuân Hoàng

Chú thích
(1). Trần Đình Hượu (1990), "Hiểu gia đình truyền thống: đổi mới chứ không phải phục cổ", Tạp chí xã hội học, số 3 (31).

Tài liệu tham khảo
1. Đoàn Trung Còn (dịch) (2011), Luận ngữ, Nxb Thuận Hóa, Huế.
2. Nguyễn Thị Thanh Mai, "Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay", Nghiên cứu văn hóa, Trường Đại học Văn hóa, số 2/2010.
3. Nguyễn Đức Mậu, "Nho giáo ảnh hưởng như thế nào trong gia đình người Việt?", Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 288, ngày 10/3/2015.
4. Lê Phước, "Sự lùi bước của Nho Giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX", http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130802-su-lui-buoc-cua-nho-giao-o-viet-nam-hoi-the-ky-19/#, truy cập ngày 10/4/2015.
5. Hồ Sĩ Quý, "Về số phận của Nho giáo", Văn hóa Nghệ An, số 290, ngày 10/4/2015.
6. Nguyễn Đức Sự, "Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam", Văn hóa Nghệ An, http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/vi-tri-va-vai-tro-cua-nho-giao-trong-xa-hoi-viet-nam
7. Nguyễn Tài Thư (2009), "Một số đặc trưng của Nho giáo Việt Nam", Tạp chí Triết học, số 9 (220). 
CHUYÊN SAN KHXH&NV NGHỆ AN SỐ 10/2015
(Bài đăng đã tham gia Hội thảo quốc tế với chủ đề “Tư tưởng các nước Đông Á thế kỷ XIX”, do Viện Thông tin Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ngày 22 tháng 4 năm 2015)

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Nhiều chuyên gia đang có ý kiến về chuyện Bộ GD ĐT để môn lịch sử là môn tự chọn, như một menu mà thực khách ăn theo sở thích của mình.
Ông Bộ có cần suy nghĩ lại!?
Dưới đây lả một bài viết khá hay của một tác giả nước ngoài. 
Tôi cho rằng, tri thức lịch sử là của toàn thế giới, nhưng ý thức về lịch sử quốc gia dân tộc mình là chuyện của mỗi quốc gia!.

GS Mỹ: Vì sao nên dạy sử thời toàn cầu hóa?

- "Vì sao nên dạy sử quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa?" là bài viết của Johann N. Neem, GS  ĐH Tây Washington ngành sử học, đăng trên tạp chí giáo dục The Chronicle Higher Education.


Hầu hết học sinh lớp 4 đều không biết rằng Abraham Lincoln là nhân vật lịch sử quan trọng

Hiện nay, Mỹ đang phải đối mặt với thách thức lớn trong việc khẳng định bản sắc của mình. Các thị trường toàn cầu hóa đã kết nối chúng ta với mọi người ở những vùng đất xa xôi, cho phép chúng ta mua hàng giá rẻ sản xuất tại các quốc gia còn hạn chế trong việc bảo vệ lao động và môi trường. Toàn cầu hóa cũng thúc đẩy quá trình di cư mạnh mẽ và làm nảy sinh nhu cầu giao thương quốc tế tự do hơn. Bản sắc của chúng ta có thể thay đổi theo thị trường, giảm bớt kiểu quản lý tập trung của nhà nước trong cuộc sống.
Vậy toàn cầu hóa bản sắc dân tộc có gì tốt không? Tôi nghĩ là không có.
Các tư tưởng chính trị cấp tiến, bao gồm việc phân chia lại của cải vật chất giữa những người giàu và người có thu nhập thấp, đều dựa trên một chủ nghĩa dân tộc gắn kết và mạnh mẽ.
Nhưng nghịch lý là trong thời đại toàn cầu hóa, các trường học của chúng ta vừa phải làm cho người dân Mỹ ý thức nhiều hơn về sự gắn kết của họ với thế giới, vừa phải củng cố việc giảng dạy môn lịch sử nước nhà.
Sức mạnh của lịch sử là khả năng định hình bản sắc của tập thể.Bằng việc giảng dạy lịch sử dân tộc, chúng ta giúp tạo ra các kiều dân. Mọi bản sắc đều xuất phát từ những câu chuyện lịch sử. Là một thành viên trong một cộng đồng tức là hiểu rõ quá khứ của mình, và tìm cách giúp cộng đồng trong hiện tại tức là để cải thiện nó trong tương lai. Điều đó đúng đối với các quốc gia, cũng như với các cộng đồng tôn giáo, dân tộc và nghề nghiệp. Như nhà khoa học chính trị Roger Smith đã viết trong “Stories of Peoplehood” (NXB Đại học Cambridge năm 2003), các bản sắc dân tộc dựa trên sức sống của những câu chuyện kể đưa chúng ta theo dòng lịch sử. Những câu chuyện này cho chúng ta biết mình là ai.
Việc dạy lịch sử quốc gia có vai trò đặc biệt quan trọng để đảm bảo một công chúng có khả năng bảo vệ dân chủ. Lịch sử quốc gia thúc đẩy lòng yêu nước. Những người có xu hướng rũ bỏ chủ nghĩa dân tộc, coi đây là một tư tưởng thoái lui và công kích, thì có thể cũng quay lưng lại với lịch sử dân tộc vì lý do này.
"Chính vì toàn cầu hóa đang đe dọa xóa mờ các đường biên giới quốc gia nên chúng ta cần hành động như những người thầy để cứu chúng. Không có tình yêu xuất phát từ lòng yêu nước thì giáo dục nhấn mạnh tới tư cách công dân cũng chỉ là vô nghĩa. Công dân tốt phải học cách yêu thương đồng bào mình trước khi việc giáo dục công dân đạt thành quả."
Giống như lịch sử của bất cứ quốc gia-dân tộc nào, lịch sử Mỹ có nhiều câu chuyện vẻ vang và những tư tưởng lớn, cũng như những chuyện về sự phản bội. Những câu chuyện vẻ vang thúc đẩy tình yêu đất nước trong mỗi con người, còn những câu chuyện đáng phê bình sẽ đảm bảo rằng tình yêu ấy không trở nên mù quáng. Đây là sự kết hợp giữa tình yêu nước của một người và ý thức về các thất bại của người đó, giúp tạo ra các hành vi công dân.
Nếu không có tình yêu nước, thì ai còn quan tâm tới đất nước? Nếu không có các nhận thức mang tính phê bình, thì các công dân sẽ làm thế nào xác định được sự đúng - sai trong các hành động của quốc gia mình và tìm cách làm những điều tốt hơn? Quan điểm này đã được Todd Gitlin nêu ra trong cuốn sách của ông mang tên “The Intellectuals and the Flag” (tạm dịch là “Trí thức và lá cờ”), NXB Đại học Columbia năm 2006.
Theo Gitlin, nguồn gốc và niềm say mê của trí thức nằm ở chủ nghĩa tích cực trong những năm 1960, nhưng ông cho rằng người Mỹ cánh tả đã thái quá với “niềm vui lên án người khác”.
Theo ông, đây cũng là chủ nghĩa dân tộc. Gitlin đã nêu rõ rằng chủ nghĩa dân tộc không đơn giản “những biểu hiện đặc trưng” và chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến, mà là “một cảm nhận về ý thức trách nhiệm”.
Tại sao chỉ tình yêu giữa con người với con người thôi chưa đủ? Đó là tư tưởng của những người ủng hộ chủ nghĩa thế giới, vốn đổ lỗi cho các quốc gia-dân tộc gây ra mọi nỗi khiếp sợ của thế giới hiện đại. Nếu chúng ta vượt qua ranh giới hữu hạn của quốc gia để hòa mình vào thế giới như một cộng đồng nhân loại duy nhất, chúng ta sẽ quan tâm tới người khác. Hãy nghĩ rộng, và hành động thực tế.
Không ai ủng hộ điều này mạnh mẽ hơn triết gia Martha Nussbaum, người đã viết trong cuốn “For Love of Country?” (tạm dịch là “Vì tình yêu nước ư?) của NXB Beacon năm 2002, rằng các trường học Mỹ nên từ bỏ việc tăng cường dạy lịch sử dân tộc, mà thay vào đó nên thúc đẩy một bản sắc toàn cầu.
Nussbaum lên án ý tưởng cho rằng chúng ta nên cung cấp cho người Mỹ “sự nổi bật đặc biệt trong suy nghĩ chính trị và đạo đức, và niềm tự hào trong bản sắc riêng của Mỹ và tư cách công dân riêng của Mỹ, một sức mạnh đặc biệt bao gồm các động lực để hành động chính trị”. Nếu tất cả con người sinh ra đều bình đẳng thì làm sao chúng ta có thể yêu người này hơn người kia?
Chủ nghĩa thế giới của Martha Nussbaum là một giấc mơ cao cả, và giống như mọi giấc mơ, nó thiếu tính thực tế. Con người tồn tại luôn là thành viên của các cộng đồng.
Quốc gia là một phát minh hiện đại, một cộng đồng hiện đại. Nhưng tất cả cộng đồng đều được hư cấu ra. Các quốc gia, cũng như các nhóm dân tộc, sắc tộc và tôn giáo đều là các sản phẩm của sự tưởng tượng của lịch sử. Không có nguyên nhân cố hữu để ưu đãi các nhóm sắc tộc hay tôn giáo hơn các nhóm dân tộc quốc gia. Nếu chúng ta từ bỏ quốc gia-dân tộc, chúng ta sẽ không tạo ra được một cộng đồng toàn cầu, mà chỉ tạo ra một thế giới bị chia ra bởi các dạng cộng đồng khác nhau, trong đó nguy hiểm nhất là: giai cấp.
Chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã sinh ra những bất bình đẳng mới trong sản xuất và tạo ra những người chiến thắng và những người thất bại. Chủ nghĩa dân tộc giúp kết nối người giàu với người nghèo – gắn kết chúng ta với nhau. Khi tách khỏi quốc gia, giới ưu tú của chủ nghĩa tư bản toàn cầu sẽ không còn cảm thấy có trách nhiệm với những người đang sống nghèo khổ gần họ. Tại sao họ như vậy? Họ không còn kết nối với nhau về mặt tình cảm. Chủ nghĩa thế giới sẽ không xóa bỏ xu hướng của loài người tổ chức mình thành từng nhóm để tồn tại, mà đơn giản nó sẽ tách chúng ta khỏi dân tộc - nhóm có quyền lực và khả năng đoàn kết chúng ta theo hướng tạo điều kiện cho các tư tưởng chính trị cấp tiến.
Tuy nhiên, quan điểm của Nussbaum có phần đúng. Chúng ta cần phải coi mọi người đều tồn tại bình đẳng. Liệu chúng ta có thể làm như vậy trong khi giảng dạy cho sinh viên biết tự hào vì mình là người Mỹ hay không? Có, và triết gia chính trị Michael Walzer đã nói rõ cách ông phân biệt giữa các câu chuyện “mỏng” và “dày” để nhận diện chúng ta.
Trong cuốn “Thick and Thin: Moral Argument at Home and Abroad”, (tạm dịch là “Dày và Mỏng: Lập luận đạo đức trong nước và ở nước ngoài”), của NXB Đại học Notre Dame năm 1994, Walzer cho rằng cáccâu chuyện mỏng gắn kết chúng ta với sự tồn tại của tất cả loài người. Những câu chuyện này nhắc nhở chúng ta về quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng những gắn bó sâu sắc nhất của chúng ta, khiến chúng ta hành động như những công dân, được thể hiện qua quan hệ thành viên của chúng ta trong các cộng đồng cụ thể mà trong đó chúng ta cảm thấy kết nối mạnh hơn về tình cảm.
Cộng đồng toàn cầu vẫn còn quá trừu tượng để chúng ta hành động theo cách đó. Tuy nhiên, lịch sử của mỗi quốc gia có thể thúc đẩy những câu chuyện dày, tức là những chuyện gắn kết mọi người trong một cộng đồng gắn bó, thúc đẩy hành động của công dân tốt hướng tới người khác. Chủ nghĩa dân tộc đem đến cho mỗi công dân một sự kế thừa chung, một truyền thống chung.
Bản sắc được toàn cầu hóa, cũng giống như chủ nghĩa tư bản toàn cầu, đang phá hủy sự kế thừa này nhằm giải phóng các quyền cá nhân khỏi các trách nhiệm đối với dân tộc. Nếu không có chủ nghĩa dân tộc, các tư tưởng chính trị dân chủ sẽ chẳng là gì ngoài sự mưu cầu tư lợi, và các lợi ích tài chính lớn nhất sẽ chiến thắng. Sao có thể khác được khi mỗi công dân không có một truyền thống mang theo mình, và các nhà lãnh đạo không có trách nhiệm?
Yêu nước không thể hiện ở những biểu tượng hay chủ nghĩa Sô - vanh hiếu chiến mà ở ý thức, trách nhiệm của mỗi công dân.
Điều đó khiến chúng ta lại thấy tầm quan trọng của việc giảng dạy lịch sử Mỹ trong trường học ngày nay. Chính vì toàn cầu hóa đang đe dọa xóa mờ các đường biên giới quốc gia nên chúng ta cần hành động như những người thầy để cứu chúng. Không có tình yêu xuất phát từ lòng yêu nước thì giáo dục nhấn mạnh tới tư cách công dân cũng chỉ là vô nghĩa. Công dân tốt phải học cách yêu thương đồng bào mình trước khi việc giáo dục công dân đạt thành quả.
Nhấn mạnh vai trò của lịch sử dân tộc không có nghĩa là bác bỏ sự cần thiết của việc sinh viên Mỹ phải có hiểu biết nhiều hơn về lịch sử thế giới và vai trò của Mỹ trong thế giới. Đây không phải là hai việc loại trừ nhau.
Các câu chuyện toàn cầu có thể nhắc nhở chúng ta về những câu chuyện mỏng của chúng ta, hoặc nói rộng hơn là các cam kết của chúng ta. Chúng cũng sẽ giúp công dân hiểu được mối quan hệ giữa các hành động của họ ở trong nước và chính sách đối ngoại của Mỹ. Một công dân yêu nước không thể thoái thác nghĩa vụ thúc đẩy một trật tự toàn cầu.
Tuy nhiên, không giống như các nơi trên thế giới, một quốc gia-dân tộc dân chủ phải bao gồm các công dân có trách nhiệm với các hành động của nước mình trên trường quốc tế.
Quốc gia không phải là ngọn nguồn duy nhất của bản sắc cá nhân mỗi con người. Mỗi chúng ta đều thuộc các cộng đồng tôn giáo, dân tộc, hay nghề nghiệp... giúp định hình chúng ta và khiến chúng cảm thấy có trách nhiệm. Các cộng đồng này làm cho sự tồn tại của chúng ta trở nên phức tạp, nhưng cũng khiến chúng ta có khả năng cân bằng giữa các nghĩa vụ đối với đất nước và nghĩa vụ với những người xung quanh ta và trên thế giới. Nhưng ngay cả khi người Mỹ chúng ta ý thức hơn về các trách nhiệm của mình đối với thế giới rộng lớn, thì các tư tưởng chính trị dân chủ vẫn phải dựa trên trách nhiệm của chúng ta đối với người khác./.
  • Johann N. Neem/Bài viết đăng trên The Chronicle Higher Education
  • Chuyển ngữ: Quốc Thái - Thu Thảo

Bài viết này giản lược từ một bài luận văn dài mang tên 
“American History in a Global Age (tạm dịch là “Lịch sử Mỹ trong thời đại toàn cầu hóa”), xuất hiện trên History and Theory số ra tháng 2/2011.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

NGHĨ NHÂN CHUYỆN CÁC NHÀ THƠ TỐ NHAU “ĐẠO VĂN”

Mấy bữa nay tự dưng có chuyện để quan tâm: chuyện đạo thơ trong làng văn nghệ. 
Mà không thể không quan tâm, khi mình cũng là một người yêu thích văn chương và ít nhiều cũng là người cầm bút.
Ai đạo ai, bằng suy luận logic và mỹ cảm nghệ thuật, nhiều người trong chúng ta sẽ nhận ra.
Viết mấy dòng này, không đi vào chuyện đạo cụ tỉ của các mấy tác phẩm thơ mà nói cái xung quanh chuyện "ăn cắp" tác phẩm -hành vi thường được dùng một từ nghe khá trang trọng: "đạo văn".