Paxuho

Có một miền minh triết nhưng rất xa...!

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

Chuyện nữ sinh bên bờ vực trượt đại học nghành an ninh và tình người cư dân mạng

Một nữ sinh sinh ra trong gia đình nghèo của tỉnh Quảng Bình, mong ước vào nghành an ninh để đỡ gánh nặng cho mẹ. Thi đạt á khoa của Học viện Chính trị công an nhân dân, nhưng một ngày em bỗng nhận được giấy thông báo của công an huyện là không đủ điều kiện nhập học vì phần khai lí lịch không trung thực. Niềm vui đang phơi phới thì nỗi buồn và thất vọng bao trùm. Câu chuyện nữ sinh Bùi Kiều Nhi đã gây được sự quan tâm lo lắng cộng đồng mạng những ngày qua.  
Về câu chuyện của em, xét về lý, “án tại hồ sơ” thì em đã sai, khi em không khai đúng, đầy đủ về thân nhân mình. Vì theo qui định của nghành phải khai trung thực về bản thân và gia đình, mà cho cùng thì nghành nào cũng đòi hỏi phải khai lí lịch trung thực nhưng nghành an ninh làm việc này kĩ hơn.
Cái sai của em được nhìn nhận là cái sai không cố ý. Nhưng vì “tình ngay lí gian”, nên em bị tội. Cái lỗi không cố ý của em là em không hề biết về chuyện bị án treo 9 tháng của bố mình để khai theo yêu cầu của hồ sơ. Em là kết quả của cuộc hôn nhân sau khi bố em bị kết án 5 năm (em sinh năm 1997, bố em bị kết án 1992) và bố mẹ em cũng không hề tâm sự chuyện đó với con cái. Với một học sinh 18 tuổi, sai về chuyện lí lịch gia đình, khó có thể là cái sai cố ý của em mà do không được biết, hoặc do biết không đầy đủ. Theo thư em viết cho bộ trưởng Trần Đại Quang, khi khai hồ sơ, em có hỏi mẹ về gia đình nhưng mẹ em không cung cấp thông tin đặc biệt gì về người bố. Trong thời điểm đó, giả sử bà có biết nhưng coi đó là chuyện không quan trọng, không cần thiết nói với con mình thì lỗi lại là ở sự sơ ý người lớn.
Qua câu chuyện của em, cũng cho thấy sự thiếu logic nhất quán của luật và những quy định dưới luật. Chiểu theo quy định của Bộ Luật Hình sự 1985, những “người được xóa án coi như chưa can án”, trường hợp bố em B. K.N bị án treo 9 tháng đã được công lý xóa án, đã trở lại là công dân bình thường. Khi đã được công nhận là công dân bình thường thì không ai muốn nhắc lại chuyện cũ, vì án xẩy ra bị chịu mức án treo không phải là trọng tội và tâm lí thường không ai muốn mình bị coi là kẻ có tội, và không muốn con cái mặc cảm về cái gọi là tội/lỗi của bố mẹ, nên việc bố Nhi giấu vợ con hoặc không chia sẻ với vợ con cũng là điều bình thường.
Nếu căn cứ vào hoàn cảnh thực tế này thì sự khai hồ sơ của em Nhi là hoàn toàn vô tư nhưng em đã bị “việt vị” vào quy định khác (văn bản dưới luật) đó là quy định của nghành an ninh. Như trên đã đề cập, nghành an ninh nghiêm khắc yêu cầu người vào nghành phải rõ ràng và “sạch” về lí lịch. Chính yêu cầu “sạch” về lí lịch khiến việc khai của em tưởng chừng như vô tư nhưng vô tình bị mắc cái lỗi “không trung thực”, tức đã phạm vào một trong các tiêu chí đạo đức quan trọng của ngành an ninh.
Tuy nhiên, điều đáng hoan nghênh của nữ sinh Nhi là khi có công văn của công an huyện thông báo về tình hình của mình, em đã thể hiện một thái độ trung thực, cầu thị và tha thiết đứng trong hàng ngũ an ninh, điều này thể hiện ở những bức tâm thư kêu cứu của em tới các vị bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Công an.
Hoàn cảnh của một nữ sinh vượt lên hoàn cảnh khó khăn, học giỏi, với ý chí quyết tâm lớn đã lay động cộng đồng mạng. Nhiều người lo lắng chia sẻ với những “vấp váp” đầu đời không đáng có của em. Nhiều người tiếc cho em nếu như em không có một cơ hội vào nghành an ninh như ý nguyện của mình. Chính những ngày qua, truyền thông và mạng xã hội đã xích lại gần bên em, chia sẻ cảm thông với em và giúp em nuôi một niềm hi vọng được Bộ trưởng Bộ Công an tạo điều kiện cho em được nhập học vào Học viện Chính trị công an nhân dân kẻo bỏ lỡ một cơ hội đối với một học sinh giỏi giang, đầy nghị lực như Nhi.
Trả lời của thiếu tướng, giám đốc Học viện Chính trị công an nhân dân với báo chí là rất nhân văn và thể hiện sự cảm thông rất lớn của nhà trường. Tuy nhiên, người quyết định cao nhất chuyện này là Bộ trưởng Bộ Công an. Chúng ta cùng hi vọng, người đứng đầu nghành an ninh sẽ thuấu suốt “lỗi” sơ ý của em, thấu hiểu tình cảm và nguyện vọng của nữ sinh này, sẽ chấp nhận em vào trường học đã đăng ký, giúp em biến ước mơ thành hiện thực.

Tình cảm, sẻ chia của cộng đồng dân cư mạng đã cho thấy sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục là rất lớn. Số phận của một học sinh trước bờ vực trượt đại học hơn bao giờ hết mọi người đều muốn giang tay nâng đỡ. Qua câu chuyện của em Nhi cũng cho thấy tình người đối với con người, đối với những tấm gương nghèo hiếu học là rất nhân ái. Không phải câu chuyện của con em mình nhưng nhiều người trăn trở, thấp thỏm lo lắng cho Nhi y như chuyện con em mình vậy. Những tấm lòng thiện ý của xã hội đã xích lại gần nhau hướng tới số phận tương lai của một con người, thắp sáng thêm niềm tin của xã hội vào lòng tốt của con người và cuộc đời. 
HN, 17/9/2015

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Vô tình thấy bài tản mạn của mình trên trang này nhưng không hiểu sao không đề tên tác giả, cũng như không được dẫn nguồn!?

....................................................................

TIẾNG NGHỆ- TIẾNG QUÊ, TIẾNG LÒNG

Thứ hai, 13.06.2011 01:19
Tôi hiểu, tiếng Nghệ, với người Nghệ không chỉ là tiếng quê mà tiếng gọi trở về, là tiếng lòng thổn thức khôn nguôi.
Chẳng biết Việt Nam ta có mấy vùng phương ngữ khác nhau, chỉ biết trong 3 miền Bắc, Trung, Nam, thì ngay mỗi cái vùng lớn ấy đã có mấy thứ tiếng khác nhau, mà dễ nhận thấy là tiếng Thanh, Tiếng Nghệ, Tiếng Quảng, tiếng Huế, tiếng Sài gòn, tiếng miền Tây (đôii khi cũng gọi là giọng)…
Mỗi thứ tiếng (giọng) có một sắc thái tình cảm riêng, một chất riêng, cũng có thể gọi đó là nét cơ bản dễ nhận dạng góp phần tạo nên bản sắc văn hoá vùng miền.
Tiếng Nghệ quê tôi của cả Nghệ An và Hà Tĩnh (trước kia là Nghệ Tĩnh), mang âm vực nằng nặng khó nghe nhất đối với ai sống ở vùng miền khác, lại là khi mới tiếp xúc lần đầu. Người Nghệ tôi yêu quê nên tự hào về tiếng nói ấy, có nhiều người đi xa hàng chục năm trời vẫn nặng nặng tiếng nói ấy, có người đã pha lẫn ngai ngái giọng Bắc, giọng Nam nhưng không lẫn đi đâu được cái giọng Nghệ.
Có phải giọng Nghệ nặng nên khó thay đổi, hay vì chính người Nghệ không muốn thay đổi? Xét từ bản thân mình, đôi khi mình muốn nói nhẹ hơn, chuẩn mực phổ thông hơn để bè bạn và mọi người khác xứ dễ nghe, song những âm vực ấy, chất giọng Nghệ ấy đã ngấm vào máu, trụ lại ở thanh quản, chẳng dễ gì phôi phai. Tôi chỉ có thể nói tiếng ngôn ngữ phổ thông hơn, nhẹ hơn để dễ hiểu hơn một chút, còn cái giọng ấy, âm vực nằng nặng ấy vẫn đi theo tôi dù đã xa quê lâu ngày, chỉ có con gái là mềm mại hơn nên dễ đỗi giọng, nếu cố tình thay đổi thì cũng có thể nói được giọng Bắc nghe chẳng khác chi người Bắc.
Hồi đi học đại học, mấy bạn gái ở quê ra bắt chước giọng Hà Nội thật chuẩn, có khi chính người thân như tôi còn thấy ngỡ ngàng, thì người lạ cũng không dễ gì phát hiện ra gốc gác. Đôi lần tôi đùa “Hôm qua em đi tỉnh về/Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”(Nguyễn Bính), thì mấy cô bạn gái tôi cười, ừ thì cũng phải biến tấu ít để ngoại giao chứ! Ấy vậy nhưng mỗi khi gặp đồng hương thì xả những tràng tiếng quê giòn như pháo, tự nhiên, khoan khoái, như đang chính ở nhà mình. Cái giọng nằng nặng của tôi cũng gặp không ít phiền phức nho nhỏ, vì có khi người khác phải hỏi lại mới rõ mình nói gì, mà trong giao tiếp như thế cũng là bất tiện. Một anh bạn đồng nghiệp người Bắc có lần hỏi tôi, anh không thay đổi được giọng của mình nhỉ? Tôi bảo, ừ cũng khó! Mà nếu tôi thay đổi chắc tôi sẽ là người khác mất rồi, tôi nghĩ bụng thế! Ông cha quê tôi có câu mắng mỏ những kẻ lai căng mất gốc thế này “Chém cha không bằng pha giọng”. Pha giọng còn nặng hơn tội bất hiếu với cha.
Dân gian có cái lý của mình, tôi không thuộc típ người nệ cổ và bảo thủ song vẫn mến yêu giọng nói quê mình và tự thấy có lẽ giọng ấy là chút quê của tôi còn lại sau bao năm tha hương.


Nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng hiện sống và làm việc tại Liên bang Nga, đã từ lâu ông viết một bài thơ về quê hương, trong đó ông có mấy câu nói về giọng quê: “…Tiếng mộc mạc nhận ra người xứ Nghệ/Đi muôn nơi, giọng nói vẫn quê nhà …”
Người ta dễ dàng nhận ra con người Nghệ nhờ chất giọng không lẫn vào đâu được, giọng quê nhà, giọng của người đất Nghệ.
Giữa những người Nam đất Bắc nghe một tiếng Nghệ bỗng thấy quê hương gần lại, người xa lạ cũng hoá thân quen. “Nhiều khi chợt nhớ điếng người/Không cao sang – chỉ những lời “mô, tê”/Thôi thì cũng một tiếng quê/Người chê nằng nặng mình nghe chính mình” (Giữa Hà Nội gặp đồng hương – Hồ Huy Sơn).
 Cũng có đôi khi có những thoáng sánh so đáng yêu. Trong bài thơ “Con gái Nghệ An ra thăm Hà Nội”, tác giả Phan Thuý Thảo có viết: “Con gái Nghệ An ra thăm Hà Nội/Ngẩn ngơ: Lời họ quá mềm/Chao ôi! Giọng mình giật cục/ Người ta nói sao ngọt êm” Nhưng không hề tự ti ngược lại tự hào một cách tếu táo, đáng yêu: “Con gái Nghệ An ra thăm Hà Nội/“Mô, tê, răng, rứa” làm quà/Bạn cười gãi “tróôc” bào chữa/ “Rứa thôi dân Nghệ nhà choa!”
Thế mới thấy những gì thuộc về hồn, cốt đâu dễ gì quên, đâu dễ gì bỏ, trái lại ai cũng nhân lên niềm yêu mến, nỗi tự hào. Không hiểu các nhà ngôn ngữ đã lí giải như thế nào về giọng Nghệ quê tôi. Trong cái vốn hiểu biết của mình, tôi hiểu rằng, ngôn ngữ là sản phẩm của con người, của sản xuất, sinh hoạt và giao lưu trao đổi tình cảm nhưng bị chi phối bởi phong thổ, khí hậu. Cái chất giọng nằng nặng ấy là sản phẩm của thiên nhiên gió Lào nắng nóng khắc nghiệt, của bão lũ hoành hoành hàng năm, của những con người bộc trực, thẳng thắn, nhiệt tình nơi một miền quê còn nhiều gian khó.
Cũng nhờ thứ tiếng ấy mà có những điệu hò xứ Nghệ sâu lắng, trữ tình, chẳng lẫn vào đâu được. Thật cảm động khi nghe “Giữa Mác Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”, người đi xa thương nhớ, nao lòng. Thật xúc động khi Trần Hoàn viết một khúc ca có chi tiết lịch sử về lãnh tụ Hồ Chí Minh, rằng trước lúc Người đi xa “Bác muốn Nghe một câu hò xứ Nghệ”.
Ai đi xa mà lòng chẳng mang nỗi nhớ quê hương, với lãnh tụ Hồ Chí Minh tình cảm ấy đã ăn sâu vào máu thịt dẫu hàng chục năm bôn ba xa ngái quê hương. Một câu hò trước lúc đi xa để được là trở về, là tìm về cội nguồn, một phút giây lắng lại như dân gian từng nói “lá rụng về cội”.
Bởi tình yêu quê hương đất nước luôn day dứt trong tim, mà chỉ có những câu hò, điệu ví mới giúp nguôi ngoai nỗi nhớ thương.
Với tôi lâu không nghe tiếng quê cũng thấy nhớ, không gần thấy thiếu, và mỗi lần được nói bằng chính giọng quê lại thấy gốc gác của mình.
Tôi hiểu, tiếng Nghệ, với người Nghệ không chỉ là tiếng quê mà tiếng gọi trở về, là tiếng lòng thổn thức khôn nguôi.
http://luatvidan.vn/index.php?f=news&do=detail&id=256

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

THIÊN THẦN ĐÃ ĐÓN EM ĐI

Em bé Syria
Theo cha mẹ đi tìm miền đất hứa
Khi đất nước chìm trong máu lửa
Lương dân em ai cũng khao khát một chân trời
*
Gia đình em đi qua đại dưong
Gió dập sóng vùi những ước mơ chết lặng
Những cánh tay chới với chìm dần trong hoảng loạn
Chẳng ai thể cứu em khỏi nanh vuốt tử thần
*
Cha mẹ em bỏ lại sau lưng em một chân trời
Tìm hạnh phúc thực hư đâu chưa rõ
Cuộc sống mới bên kia bờ vẫn là ảo vọng
Mà tính mạng treo trên đầu ngọn sóng
Đất hứa nơi đâu đi mãi chẳng tới bờ
Đất hứa là đâu trong tầm nghĩ của trẻ thơ

*
Em thơ đi đâu em về đâu
Thiên thần gẫy cánh nơi bờ sâu nước người
Hồn em thoát xác về đâu
Mà thân để lại niềm đau trên đời
*
Em chết rồi đừng oán hận nhé em thơ
Cha mẹ em đã không còn chọn lựa
Giá như tổ quốc em không chìm trong lửa đạn
Thì em vẫn bình yên viết mơ ước cuộc đời
*
Nhưng em đã đến và mãi em còn ở đó
Trong nỗi ám ảnh của nhân loại
Em đã cập bến và mãi còn ở lại
Để nỗi nhớ thương khắc khoải phía quê hương

Hãy ngủ đi em trên bãi cát đợi bình minh
Với đôi cánh của người hoạ sĩ tặng mình
Em sẽ bay trên chốn thiên đàng linh diệu
Chúa sẽ đón em thức dậy
Trong hào quang thánh thiện của Người!



HN, 04/9/2015
P.T.H

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

CẢM NGHĨ NGẮN NHÂN ĐỌC "UỐNG RƯỢU VỚI NGUYỄN DU" CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO.

Hàng trăm năm qua những hậu thế vẫn không ít người thao thức cùng Nguyễn Du và đau cùng nỗi đâu thân phận nàng Kiều. Người đời thường nói những tư tưởng lớn gặp nhau, những nỗi cô đơn cũng giống nhau. Bao người đã gặp cụ Nguyễn trong giấc mơ, bao người lấy cụ làm cảm hứng sáng tạo, nhưng vẫn chưa đủ, nhân thế vẫn mong "gặp" Cụ! 
Thì đây, 250 sau, tại chính quê hương đại thi hào, nhà thơ hậu sinh đồng hương xứ Nghệ Nguyễn Trọng Tạo đã gặp và nâng chén hầu rượu bậc tiền nhân. Nhà thơ uống với tượng nhà thơ, nhà thơ uống với tình nhà thơ và nhà thơ sầu những nỗi sầu hàng trăm năm của cụ Nguyễn đã sầu. Những thi nhân dù ở những thế kỷ nào đi chăng nữa, mối đồng cảm giữa họ thường sâu sắc. Vị thế nhà thơ có thể khác nhau đi chăng nữa, thì thiên chức cao cả của họ là phải viết cho được về Con người, trả về cho con người những giá trị chân chính nhất.
Nhân thế bao la, bao chén rượn nồng đã cạn, bao be rượu đã lăn lóc góc sân, khoảng vườn đất Tiên Điền. Cụ Nguyễn vẫn bước đi trong dáng thế của kẻ sĩ, trong tầm vóc vĩ nhân, không cúi đầu, lừng lững bước đi!.
UỐNG RƯỢU VỚI NGUYỄN DU
Vẫn chén vẫn be mà ông thì đi vắng
Vào núi Hồng săn nai hương?
Sang Trường Lưu hát giao duyên cùng phường vải?
Cô gái quán Tiểu Khê mời tôi uống rượu
Một chén một be đợi ông về.
Tôi đợi đến tận khuya
Nghe câu Kiều bạc tóc
Mình thương mình xa xót
Hoa lê rụng cuối vườn
Ông vẫn đi cùng thập loại chúng sinh
Khóc thương từng con chữ
Con chữ như phận người
Lập lòe trong cỏ
Con chữ như tên nỏ
Bắn vào nỗi u mê
Ông vẫn đi
250 năm không nghỉ
Nàng Kiều sống cùng ông
Hương cuối mùa thơm mãi
Sông Tiền Đường vẫn chảy
Sóng động bến Giang Đình
Vẫn còn đó Thúc Sinh
Vẫn còn đây Từ Hải
Gã bán tơ sống lại
Mụ Tú Bà hồi sinh
Giật mình mình lại thương mình
Thương cây bút bị đòn roi bao đận…
Vẫn quán Tiểu Khê tôi đợi ông đến sáng
Nghe tiếng ông văng vẳng:
“Có rượu cứ nghiêng bầu” (*)
Hình như tiếng ông phát ra từ pho tượng
Còn ông vẫn đi
Đi mãi
Chẳng cúi đầu
Be rượu cạn lúc nào
Chén rượu cạn từ lâu
Bao giờ
Dù có
Mai sau…
Hà Nội, 30.8.2015
NGUYỄN TRỌNG TẠO.
_______
(*) Thơ chữ Hán của Nguyễn Du: “Hữu tửu thả tu khuynh”
(Ảnh: Nguyễn Trọng Tạo đọc thơ dưới tượng Nguyễn Du, khai mạc Ngày thơ VN lần thứ nhấ tại Tiên Điềnt, 2003)

Văn hóa biển Việt Nam

Bài đã đăng trên tạp chí Văn hóa- Nghệ thuật 345, 2012, bản giấy. Tạp chí Văn hiến điện tử đăng lại online. Hy vọng sẽ viết được nhiều hơn về biển đảo, địa chính trị biển đảo.
--------------------------------------------------------------------------------------------

 http://vanhien.vn/vi/news/Bai-viet/Van-hoa-bien-Viet-Nam-15996/

Thứ sáu - 21/08/2015 21:55

Việt Nam với 3260 km đường bờ biển và khoảng 1 triệu kmvùng biển có chủ quyền đã tạo nên nhiều dấu ấn văn hóa biển đặc trưng. Truyền thốngvăn hóa biển ở Việt Nam đa dạng và phong phú với nhiều loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể, thể hiện trong nghề đi biển, giao thương biển, tổ chức xã hội, lễ hội, tập tục, truyền thống chống ngoại xâm của cư dân ven biển...Văn hóa biển nảy nở trên đất nước có chiều dài đường bờ biển gấp đôi đường bộ, người dân cật lực mưu sinh, cuộc sống gắn với biển và cũng mang trong mình niềm tự hào lớn lao về biển.
 Việt Nam, văn hóa biển là một khái niệm khá mới mẻ. Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa biển "là hệ thống hóa các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại, lấy biển cả làm nguốn sống chính...Văn hóa biển phải thỏa mãn các yếu tố đặc trưng có tính hệ thống về giá trị nhân văn, tính lịch sử, không gian, môi trường...”(1). Ngô Đức Thịnh quan niệm văn hóa biển "là hệ thống tri thức của con người về môi trường biển, các giá trị và biểu tượng rút ra từ những hoạt động sống trong môi trường ấy. Cùng với nó là những cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con người tương thích với môi trường biển"(2).

Khi đề cập đến văn hóa là đề cập đến các giá trị, vì thế văn hóa biển có thể hiểu là tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra và tích lũy dần trong quá trình chung sống với biển. Văn hóa biển của người Việt có thể nhìn nhận từ phương diện vật chất (chiếm hữu, khai thác, bảo vệ), phương diện tinh thần (yêu biển, hướng biển, tư duy về biển, các sinh hoạt tinh thần trong mối quan hệ với biển).

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

GIÁO SƯ TRẦN QUỐC VƯỢNG

Gs.Trần Quốc Vượng- Nguồn: Tiền Phong online
Tôi từng bị mê hoặc bởi lối nói chuyện cuốn hút và tri thức quảng bác, uyên thâm của GS.Trần Quốc Vượng trong những năm tôi còn là sinh viên Trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội. Có một lần vào dịp cận hè, vì vội việc gì đó mà tôi để lỡ một cơ hội nghe thêm Giáo sư nói tại buổi bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên. Sau này thấy tiếc mãi.

Nghe thì vậy nhưng đọc không dễ. Để đọc những bài viết của GS phải có nhiều và hiểu rất nhiều tri thức mới thấu được! Bởi những tri thức trong các bài viết là xuyên liên ngành (sử học, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, ...)
Với tôi, giáo sư là một nhà bác học, một trí thức "ngông" khoa học!
Gần đây, trong một lần được ngồi trò chuyện cùng nhà thơ - nhạc sĩNguyễn Trọng Tạo, nhà thơ đã chia sẻ khá nhiều điều lý thú về những kỷ niệm giữa nhà thơ với Giáo sư. Có lẽ, với những người bạn và các thế hệ học trò thì hình ảnh Giáo sư còn mãi in đậm trong tâm trí. 
Mới đó, đã 10 năm cuộc viễn du bất tận của một con người!
Với chúng tôi, những người ngoại đạo của khoa học lịch sử, vẫn ước gì nền sử học nước nhà có được nhiều những cây đại thụ như Giáo sư Trần Quốc Vượng. 
HN 21.8.2015

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ


Résultat de recherche d'images pour "bắt tay"Mình về làm nghiên cứu, cũng mạnh dạn tham gia một số HT/TĐ của Đoàn Thanh niên trong tháp tòa khoa học VASS. Hôm nay lần đầu tham gia một vấn đề của liên chi đoàn cơ sở của khối nghiên cứu quốc tế - VASS, hi vọng đúng sân chơi của mình. Bài đã xong và ấn đã gửi! Okie!
Chính trị và quan hệ quốc tế luôn có những điểm nóng, những vấn đề nổi cộm. Đồng thuận và xung đột lợi ích luôn đan xen. Vì lợi ích mà quan điểm thái độ của các chủ thể quốc gia/khối/liên minh có thể đổi chiều liên tục, không giống như cuộc chơi của những người bạn và những người hàng xóm kiểu nhà mình. Bạn bè, hàng xóm, nói một là một, coi đạo nghĩa làm đầu, để mất niềm tin không có chơi, thậm chí bị tẩy chay! Quan hệ quốc tế không phân liệt như vậy (trừ sự phân liệt cực đoan kiểu cũ của các khối kiểu cũ: CNXH/CNTB), mà là hợp tác và đấu tranh, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Đấy anh chàng khổng lồ Trung Quốc ngang tàng trên Biển Đông, một mình một phách, vô lối. Nhiều anh khác rất bực mình, chỉ trích nhưng vẫn phải chơi với anh chàng khổng lồ này. Anh CS không cùng đường với anh TB nhưng vẫn phải giương cao lá cờ hợp tác, chung sống, cùng có lợi. Nói là có thù địch, chống phá, phản động đấy, nhưng đấu tranh vẫn phải là tranh không đấu! Có ai chối bỏ/triệt tiêu được ai đâu!
Đọc và phân tích chính trị chiến lược quốc tế thực sự là thú vị, luôn mới (sự kiện, tình tiết, quan điểm, thái độ, hành động) ngay cả những vấn đề đã cũ.
Nhớ 2012, đi Hội thảo Việt Nam học, được gặp và chụp hình với Gs.Carl Thayer (Đại học Quốc phòng Úc), nhà phân tích chính trị hàng đầu về Châu Á- Thái Bình Dương, rồi thi thoảng đọc các phát biểu, phân tích của ông, thực sự là ngưỡng mộ Ông. Hình như Ông đi theo tốc độ "gió" của các sự kiện nóng hổi. 
Cái hay của nhà nghiên cứu quốc tế là đi cùng sự kiện, sống cùng sự kiện nhưng cái tài của họ phải là đi xuyên sự kiện, đi trên sự kiện và giữ được thái độ trung tính, khách quan trong nghiên cứu, thể hiện quan điểm, ý kiến của mình. Chưa nói là mỗi bài viết, bài trao đổi cần phải chắc chắn, sắc sảo và có sức thuyết phục. 
Và nghiên cứu quốc tế thì khó mà "nói không" với ngoại ngữ, đặc biệt tiếng Anh. Tiếng Anh ngày nay không còn là English của người xứ England mà là Globish!
Thú vị thay nhưng cũng khó khăn thay!

HN 20.8.2015

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Nên tự vấn thay cho tự hào!

  •   PHẠM THẠCH HOÀNG
  • Thứ tư, 12 Tháng 8 2015 20:46
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Nên tự vấn thay cho tự hào!Chẳng nhẽ đây là linh vật của VN mà họ lạ đưa ra nước ngoài quảng bá?
Người Việt hơn hàng ngàn năm lịch sử đã tạo dựng nên những truyền thống đáng tự hào: dũng cảm, kiên cường, bất khuất, nhân ái, nghĩa tình...; nhưng soi xét trong thế giới văn minh, người Việt cũng còn vô số những "thói hư, tật xấu"!
Ứng xử truyền thống là: với tốt đẹp, thì ngợi ca và tự hào (phô ra), với xấu xa thì che giấu đừng để người ngoài biết (đậy lại). Nhưng đó đã là chuyện ngày xưa trong lũy tre làng.  
Chúng ta có quyền tự hào về chính chúng ta về những điều tốt đẹp, song với thói xấu thì cần thẳng thắn, cởi mở nhìn nhận và cởi bỏ. Đó là những thái độ lên làm trong buổi hôm nay.
Không cẩn thận, trên con thuyền hội nhập, trong đoàn người hành hương về tương lai, người Việt chúng ta dễ như những kẻ lạc đàn.
Những hiện tượng ăn cắp vặt, những thói xấu không giống ai trong thế giới văn minh mà báo chí nói hàng chục năm nay, vẫn tiếp diễn, bị nhiều nước có thái độ khó chịu phản ứng ra mặt. Mới đây, hai công dân Việt Nam đi du lịch châu Âu ăn cắp mỹ phẩm bị phạt 1000 Euro, bị cộng đồng mạng không ngớt lời che trách: đã có tiền để đi du lịch tận châu Âu, mà còn làm mấy cái trò lưu manh ấy!
“Con sâu làm rầu nồi canh”, hành vi của một vài người đã là nỗi nhục của hàng triệu người!
Ở cấp độ từng cá nhân đã đành, đôi khi ở cấp độ đại diện tổ chức, đại diện bộ mặt của đất nước, những người thi hành nhiệm vụ, những người tiếng "mang chuông đi đánh đất người" thường là tại các cuộc triển lãm (như triển lãm "Ngôi nhà Việt Nam" Exro2015), dường như đang làm cho có, làm lấy được và kết quả là hình ảnh người Việt không những chẳng được nâng lên, thậm chí bị coi là thấp kém.
Những ngày qua nhiều ý kiến cá nhân trên mạng xã hội than phiền về các gian hàng, cách thức phục vụ của đoàn Việt Nam tại hội chợ Expro 2015 tổ chức ở Ý. Mới đây báo Thanh niên với bài “Khách Việt phẫn nộ khi ghé 'Ngôi nhà VN' tại Expo 2015”[i], phản ánh tâm tư thất vọng của nhiều người Việt ghé tham quan gian hàng và khi so sánh nhà mình với các nước khác.
Trong khi đó, cũng trong bài báo này dẫn lời một người có trách nhiệm khi được hỏi lại cho rằng: Việt Nam đang làm rất tốt!
Không thể có chuyện làm tốt lại bị mang tiếng xấu như vậy. Với lòng tự hào, tự tôn, tình yêu đất nước, người Việt không thể đổ lỗi oan cho cái xấu thành cái tốt, mà thực ra, việc tổ chức có phần yếu kém đã làm cho họ bức xúc và lên tiếng, thậm chí không ít người coi đó là ‘nỗi nhục quốc thể!”[ii].
Câu chuyện Việt Nam tại triển lãm Expro 2015, hi vọng là chuyện cuối cùng trong các hoạt động “mang chuông đi đánh đất người” của người Việt, nếu người Việt nhận thức nghiêm túc và làm một cách đường hoàng với các sự kiện có ý nghĩa danh giá “quốc thể” như vậy. Bởi không cẩn thận, cái đẹp chẳng được phô ra, cái xấu xa trở thành mất điểm trong mắt bạn bè.


[i]http://m.thanhnien.com.vn/story/khach-viet-phan-no-khi-ghe-ngoi-nha-vn-tai-expo-2015-sid-1005603
[ii]https://www.danluan.org/tin-tuc/20150812/noi-nhuc-quoc-the-o-milan-expo-2015
Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/nen-tu-van-thay-cho-tu-hao

Góp bàn về xây dựng văn miếu

  •   PHẠM THẠCH HOÀNG
  • Thứ hai, 17 Tháng 8 2015 17:15
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Văn miếu ở Việt Nam trước đây
Từ lâu, trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, văn miếu đã trở thành biểu tượng của đạo Nho, thờ đức Thánh Khổng tử và các vị tiên hiền, là nơi để các nho sĩ đến thể hiện niềm kính đạo thánh hiền, lấy cảm hứng và cầu học cách trị quốc, an dân. Văn miếu chính là một phương thức để tôn vinh Nho học.
Ở Việt Nam, Văn miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng vào 1070, thời Lý là nổi tiếng nhất, được vinh danh là trường đại học đầu tiên, nơi đào tạo các nhân tài bậc cao cho cả nước. Ở các tỉnh, các địa phương cũng có các văn miếu nhưng quy mô nhỏ hơn, ví dụ như Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn miếu Huế, Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai).v.v...
Sau khi Nho học hết thời, văn miếu vẫn lưu lại nhưng chủ yếu như là địa chỉ để vọng tưởng, chiêm ngưỡng văn hóa Nho giáo hơn là tồn tại với tư cách là một tượng đài tinh thần có tính chủ đạo trong thượng tầng kiến trúc như thuở trước.
Phục dựng văn miếu hiện nay: đâu là lí do chính đáng
Gần đây cùng với xu thế phục dựng các giá trị văn hóa cổ, văn miếu cũng được nhiều địa phương cổ súy. Trong năm nay, đáng chú ý là  việc xây dựng văn miếu Vĩnh Phúc (gần 300 tỉ VNĐ), văn miếu Hà Tĩnh (gần 100 tỉ NVĐ), được dư luận hết sức quan tâm bởi nhiều lẽ. Văn miếu thời nay thờ ai? và số tiền chi để xây dựng văn miếu như vậy có đáng không!.
Câu hỏi giành được sự quan tâm của đông đảo là đối tượng được thờ trong văn miếu thời nay là ai. Đây là điểm giống nhau trong quy hoạch xây dựng văn miếu ở cả Vĩnh Phúc và Hà Tĩnh mà cho đến nay những người có trách nhiệm cũng chưa xác định được một cách rành mạch. Nếu thờ các vị đạo cao, đức trọng của đất nước và địa phương thì e là phải đặt cho nó một cái tên khác. Nếu gọi là văn miếu thì nghe ra ít nhiều còn dính dáng đến cung cách, mô hình văn miếu xưa kia.
Trong dân chúng cũng có nhiều thái độ khác nhau: người đồng tình, kẻ phản đối. Mỗi bên đều có những viện dẫn lí lẽ hợp lý của riêng mình. Và nếu nghiêng về việc coi lý do xây dựng văn miếu là thuyết phục đi chăng nữa, thì câu chuyện kinh tế bỏ ra để xây dựng văn miếu lại được coi là một nghịch lý.
Điểm mấu chốt quan trọng khiến dư luận bức xúc là số tiền xây dựng văn miếu không hề nhỏ, trong khi đời sống của người dân đang có nhiều khó khăn, thiếu thốn, bao việc cần chính quyền quan tâm săn sóc (đói, nghèo, tàn tật, trẻ mồ côi...). An dân đang là câu chuyện lớn của xã hội ta hiện nay. Trong khi còn có nhiều lớp người đang cần được Nhà nước có những chính sách cứu giúp thì việc bỏ ra những khoản tiền lớn để xây dựng các văn miếu thực sự là một việc chi tiêu không hề nhỏ!
Đành rằng, những người làm văn hóa sẽ có cái lý ở chỗ: đầu tư cho văn hóa là đầu tư không thể tính toán một sớm một chiều, cái lợi văn hóa là cái lợi chiều sâu và về lâu dài, đâu có thể so đo được! Nhưng trong khi sự lí giải về lí do xây dựng văn miếu chưa hề thuyết phục thì những băn khoăn, thắc mắc từ dân tình là điều chính quyền cần quan tâm!
Khi mà nền kinh tế đang khó khăn thì việc đầu tư cái gì, đầu tư như thế nào là câu chuyện lớn và đúng ra, với các công trình sử dụng tiền thuế của dân thì luôn cần được minh bạch trước dân. Việc xây dựng các công trình văn hoá để đời lại càng hết sức thận trọng. Phải có được sự đồng thuận cao của xã hội thì mới được coi là thành công./.
         http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/gop-ban-ve-xay-dung-van-mieu