Paxuho

Có một miền minh triết nhưng rất xa...!

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015


Chút tình quê lũ: Con không về được với quê hương...

Bài thơ ngắn đậm tình như lòng người con nơi xa ngóng trông về miền Trung, và cũng như miền quê nghèo ấy, bình dị mà sâu lắng, diết da tình...

NGÓNG LŨ PHÍA QUÊ XACon không về được với quê hương
Nghe tin lũ lòng miên man con nước
Đêm thức ngủ mơ những ngôi nhà còn đỉnh chóp
Bàng bạc sóng bùn trôi mãi miết vô tình

 
Chút tình quê lũ: Con không về được với quê hương...

Con không về được với miền Trung
Ngày dõi theo từng mẫu tin
Tim con nung lửa
Ngôi nhà thân yêu nước tràn bậu cửa
Tiên tổ linh thiêng đau đáu nhìn ra
Trời thì xa mà bão lũ thì gần
Cháu nhớ bà
Mắt rớm nước quê hương...


Chút tình quê lũ: Con không về được với quê hương...
 

Bạn gần xa
Thăm tin san sẻ
Anh em gần nhau thêm
Trong hoạn nạn quê hương
 
Miền Trung ơi mấy đoạn trường
Ai đo cho nỗi ai lường cho xa
Thương quê lòng lại về nhà
Ngóng con nước rút với bà thân yêu!
  
Hà Nội, 23h00 18/10/2010Phạm Thạch Hoàng

Những nhận thức sai lệch của Tuổi Trẻ

ThS. Phạm Thạch HoàngĐH Lâm nghiệp - Tạp chí Thanh niên, số tháng 8/2008
06:33' PM - Thứ tư, 21/08/2013
Trong lớp trẻ hiện nay, tồn tại không ít những quan niệm sai lệch. Có thể nói, nhân sinh quan của một bộ phận thanh niên có vấn đề. Một số quan niệm sau đây cho thấy điều đó.
1. Từ từ đi đâu mà vội, đời còn dài! (không quí trọng và tiết kiệm thời gian)

Nghĩ tới lớp trẻ hôm nay người ta nghĩ tới một lớp người năng động, xông xáo, hoạt động với một cường độ và nhịp độ cao nhưng không ít người không biết tiết kiệm thời gian, đợi nước đến chân mới nhảy. Ví dụ, sinh viên đến lúc thi mới học, bài đến hạn mới làm, làm việc cứ khất lần việc này việc kia vì cho rằng đi đâu mà vội, nhưng có sự biến đột xuất là công việc bỏ bê, cuống quít cả lên, chất lượng không cao. Một bộ phận học sinh, sinh viên sa vào ăn chơi lêu lổng, không học hành phấn đấu, ai có ý thức nhắc nhở thì được nghe đi đâu mà vội đời còn dài chơi cái đã. Thực ra những ngôn từ trên đây chỉ là lời bao biện. Hãy nghe những câu châm ngôn để biết quý trọng thời gian hơn. Ví như: “việc hôm nay chớ để ngày mai”; “thời gian không chờ đợi ai cả”; “vàng đã quý thời gian còn quý hơn vàng”!
2. Làm gì nhiều cho mệt, chơi cái đã hoặc thử một lần cho biết (tâm lý hưởng thụ)
Ngày nay, phần lớn ai nấy đều có chức phận riêng của mình. Thậm chí nhiều người bận tối mắt tối mũi với hàng núi công việc, họ làm việc chăm chỉ, ít khi có thời gian cho bản thân. Tất nhiên thái quá không hẳn đã là tốt, song có một bộ phận tuy trẻ tuổi nhưng đã có tâm lý thích hưởng thụ quá sớm. Ví dụ sinh viên không chịu đọc sách, không chịu đi thư viện mà thích ăn chơi, đua đòi. Trí thức trẻ không chịu nghiên cứu thì trình độ làm sao được nâng lên. Nhiều người chỉ thích chơi bời mà không chịu làm việc. Tôi quen một trí thức trẻ trong lĩnh vực khoa học xã hội, anh rất ít khi chịu đọc sách nghiên cứu khi thấy bạn mình chịu khó mày mò thì anh bạn tôi buông một câu: đọc làm gì nhiều cho mệt, đọc nhiều có hái được ra tiền đâu. Thử hỏi như vậy sẽ có đâu những kiến thức sâu sắc mới mẻ phục vụ cho chuyên môn. Một số bạn trẻ đi ra học hành, làm ăn giao lưu bị rủ rê ăn chơi, đã tự cho mình cái quyền thử một lần cho biết. Xin thưa, có những cái chỉ thử một lần thì sẽ có nguy cơ lần thứ hai và gây nghiện như hút ma túy chẳng hạn. Ai đã dính vào nàng tiên nâu thì khó từ biệt, bao nhiêu cơ hội cũng sẽ rời ta. Thực ra, trong thời buổi kinh tế thị trường, xã hội tiêu thụ xuất hiện con người rất dễ nẩy sinh tâm lý thực dụng và hưởng thụ. Thanh niên chúng ta không ít người đã cổ vũ với những quan niệm đó. Đó cũng là một nhận thức sai lệch.
3. Có tiền là có tất cả! (coi trọng sức mạnh của đồng tiền)
Sức mạnh quái ác của đồng tiền đã được các nhà văn, nhà thơ trong lịch sử văn chương cảnh báo, ví như Shakepear của nước Anh, Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Ấy vậy, nhưng trong lớp trẻ hôm nay không ít thanh niên cậy có tiền là cư xử thô lỗ thiếu văn hóa với người khác nhất là những người nghèo. Sẵn sàng bỏ tiền để thuê làm chuyện này, chuyện kia. Biểu hiện một số sinh viên bỏ tiền chạy điểm, số khác bỏ tiền để tìm kiếm tình yêu, bỏ tiền nhờ học thuê, thi mướn... Đây là những lệch lạc mà bản thân họ rồi cũng phải trả giá. Không ít thanh niên ngày nay ảnh hưởng quan niệm của xã hội đen cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng nhiều tiền. Đây là những quan niệm hết sức sai lầm, nếu đồng tiền có thể thay thế được mọi thứ thì sẽ không có tri thức chân chính, tình cảm chân thành và mọi thứ đều có thể trở thành hàng hóa thì thật là nguy hiểm. Thanh niên cần phải phê phán những quan niệm sai trái này.
4. Đời có số (phó mặc số phận)
Một số thanh niên ngày nay có tâm lý tin vào số phận. Biểu hiện: thi trượt, tại số. Không xin được việc, tại số. Làm ăn thất bát tại số. Số phận là gì, điều này không ai lý giải được dưới góc độ khoa học, đó vẫn là niềm tin, đành rằng mỗi người đều có những lôgic cuộc đời không ai giống ai cả. Tuy nhiên, nếu quá tin vào cái gọi là số phận sẽ rơi vào duy tâm, phản khoa học mà thanh niên ngày nay cần có trí tuệ nhận biết những gì là hợp lý, không hợp lý. Nếu có số phận ngồi chờ số phận thì mọi sự nỗ lực của bản thân mỗi người sẽ thừa, vì không học vẫn có thể đỗ đạt, không làm vẫn có thể giàu có, không tập luyện cũng có thành tích cao…những điều này là không tưởng. Cơ hội may mắn chỉ đến với ai bền lòng, có hiểu biết và nỗ lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh.

5. Xưa quá rồi! (coi thường những cái xưa cũ)
Một bộ phận thanh niên ngày nay chạy theo thời đại mà quên mất những giá trị xưa cũ. Biểu hiện coi thường hoặc nhận thức sai lệch về những gì ông cha đã làm trong quá khứ. Họ thường nói vấn đề đó xưa lắm rồi, bây giờ ai nghĩ thế, ai làm thế. Chúng ta đâu biết rằng chỉ có văn minh là xưa cũ, còn văn hóa không bao giờ mất đi sức sống, văn hóa luôn bắt rễ vào hiện tại và thúc đẩy hiện tại. Nếu ta không coi trọng những giá trị văn hóa gia đình và dân tộc, ta sẽ mất gốc và thiếu đi sức sống bên trong vì vậy sự phát triển của ta sẽ không thể lâu bền được. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc thanh niên ngày nay cần phát huy như coi trọng chữ hiếu kính trên nhường dưới, coi trọng lòng yêu quê hương đất nước, trọng nghĩa, trọng tình…
6. Việc đó dễ ợt, mình cũng làm được! (chưa biết lượng sức mình, thiếu khiêm tốn)
Thanh niên là lứa tuổi căng tràn nhựa sống, nhất là trong thời đại mới, thanh niên rất hãnh tiến, tự tin vào bản thân mình. Vì thế, nhiều thanh niên sinh ra tự cao, tự phụ coi mình là có tài, xem thường người già, và người khác. Thanh niên ôm nhiều mộng lớn đôi khi cứ ngỡ việc gì mình cũng có thể làm được. Nhiều người khi thấy bạn mình làm được việc này việc kia cũng xem thường việc đó mình không làm chứ nếu làm cũng làm được. Điều này làm cản trở sự tiến bộ của thanh niên. Thực ra nói và làm khác nhau, để bắt tay vào làm việc gì đó đạt thành công lại càng không dễ. Vì điểm này mà nhiều thanh niên là sinh viên, là trí thức, công chức trẻ tuổi thường mang tiếng là thiếu khiêm tốn, thiếu cầu thị, chưa biết lượng sức mình. Cổ nhân đã dạy: đừng có ngựa non háu đá, để nhắc nhở những người không biết lượng sức mình. Thanh niên cần khắc phục điểm này mới có thể vươn lên tiến bộ.
Trên đây là những nhận thức sai lệch mà không ít người trẻ tuổi đang gặp phải. Rõ ràng, tác hại của nó là rất lớn, chúng cản trở quá trình học tập rèn luyện trưởng thành của mọi người.
Tuổi trẻ có nhiều điểm mạnh vì họ là lứa tuổi thanh xuân của cuộc đời, cái sức và cái trí còn dồi dào, minh mẫn, song cũng có không ít những điểm yếu. Có những hạn chế là không tránh khỏi của tuổi đời và trải nghiệm nhưng cũng có những hạn chế là do bảo thủ, định kiến, ích kỷ. Vấn đề quan trọng là sự tự nhận thức của mỗi thanh niên, có được cách nhìn nhận đúng đắn và tiến bộ về những vấn đề của cuộc sống. Để làm được điều đó không có cách gì hơn là thanh niên phải không ngừng quan sát, lắng nghe, học hỏi chuyên gia, những người thành đạt đi trước, giao lưu thân thiện với những bạn tốt, bạn tiến bộ. Như Bác Hồ đã dạy, là học trong sách vở, học ở trường đời. Thanh niên cũng rất cần có được sự giáo dục, giúp đỡ của những người có kinh nghiệm, của các bậc phụ huynh, của thầy giáo, cô giáo và các đoàn thể chính trị - xã hội. Một khi những điểm yếu được khắc phục thì mỗi thanh niên sẽ là chủ nhân tương lai có ích.
P.T.H
 Tạp chí Thanh niên, số tháng 8/2008
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/nhung_nhan_thuc_sai_lech_cua_tuoi_tre.html

Thơ vui về vợ và bồ

Bản tiếng Anh:

Wife is like TV, girlfriend is like mobile

At home watch TV, go out bring mobile

No money, sell TV. Got money change mobile

Sometimes enjoy TV, but most of the time play with
mobile

TV free for life but mobile, if you don't pay the
services will be terminated..

TV is big, bulky and most of the time old! But mobile
is cute, slim, curvy and very portable at any time.

Operational cost for TV is often acceptable but for
mobile is high and often demanding.

TV got remote, mobile don't have 

Most important, mobile is two ways communication (talk
and listen), but with TV you MUST listen to it (either
you want to hear nagging or not).

Last but not least!

TV do not have virus, but mobile, yes, they do have
VIRUS!
  
If you would like to run the risk of having fun then
mobile, otherwise if you want to play safe then it's
better to stay with TV!
_______________________

Phạm Thạch Hoàng chuyển nghĩa

Vợ như là chiếc ti vi
Bồ như di động mang đi bên mình
Ở nhà thì xem ti vi
Ra đường bất ly di động 
Hết tiền ta bán ti vi
Có tiền lên đời di động
Thỉnh thoảng giải trí truyền hình
Nhưng mà di động không khi nào ngừng
Ti vi miễn phí người dùng
Nhưng mà di động thì không bao giờ 
Ti vi to lớn thô kềnh
Lại dễ lỗi mốt dáng hình
Di động mảnh đẹp duyên xinh
Dễ dàng cơ động bất kỳ thời gian
Phí sửa ti vi chấp nhận dễ dàng
Phí cho di động xem nào
Vừa cao vừa lại yêu cầu người ta 
Ti vi cần điều khiển
Di động chẳng cần chi
Di động, cần cho liên lạc
Quan trọng là gọi và nghe
Ti vi bạn phải lắng tai 
(dù muốn hay không cũng thế!)
Chương trình kéo dài, hiếm khi là ngắn

Ti vi không lo vi rút
Với di động cần diệt thường xuyên
Nếu bạn thích mạo hiểm để có nụ cười:
Xin mời dùng di động
Nếu muốn an toàn vui sống:
Tốt hơn là yêu mến chiếc ti vi.

                   Nguon:Pham Xuan Nguyen               

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Bài viết về Tết Nguyên Đán- Văn hóa Nghệ An 16/2/2015



Tết quê, hồn Việt thời nay

  •   Phạm Thạch Hoàng
  • Thứ hai, 16 Tháng 2 2015 01:36  



1. Tết đến lòng ta có xốn xang?.Người Việt thời nay lòng còn có chút bồi hồi khi tết đến. Những người xa quê, và những người đón tết tại thành phố, ai đầy tâm trạng, ai thấy nhẹ nhàng trong cái tết cổ truyền này?

Hình như, bây giờ, trong tâm thức người lớn tuổi, nhiều người vẫn thèm một cái tết từ ngày xưa thơ bé của những năm đất nước chưa đổi mới, lúc đó mọi thứ còn giản đơn, cuộc sống còn nghèo, có được một cái tết được tươm tất là cả một niềm mơ ước. Những ngày Tết đến, anh em con cháu quây quần, trẻ con mong được mua sắm quần áo mới, vui được lì xì, được đi chơi. Người lớn được hội ngộ, được nâng ly và nói với nhau những lời tốt đẹp nhất…thậm chí thỏa sức say mà chẳng ai ca thán nhiều lời.
Thời hiện đại, tết vẫn là sự tiếp nối cái tết muôn xưa nhưng muôn vạn người là vạn nẻo cảm xúc với tết. Điều thú vị, tết là dịp để mỗi người có thời gian nghĩ về người thân, gia đình, họ tộc, dành cho nhau sự quan tâm và có thể thực hiện những ước nguyện của riêng mình.
2. Có thực người Việt không còn mặn mà với Tết?
Những tưởng cảm xúc vui tết đã nằm lòng trong người Việt nhưng thực tế có một cảm giác chung rất dễ nhận thấy trong lời nói, việc làm của mỗi con người hôm nay là không mặn mà nhiều với tết. Không quá xốn xang với thời khắc tết, không phải cầu kì tốn thời gian, công sức, tiền bạc cho việc mua sắm tết. Nhiều gia đình sinh hoạt tết giản dị như thường ngày. Trên nhiều diễn đàn truyền thông, trang mạng xã hội, đã có những cuộc tranh luận về ăn tết Tây thay cho tết Ta, đón tết đúng dịp năm mới Dương lịch cho khớp với sự vận hành của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và Việt Nam hội nhập quốc tế. Có những bàn luận suy xét về thời gian nghỉ tết vì nghĩ đến sự tiết kiệm cho sản xuất, chơi nhiều không hợp thời trong khi cuộc sống của nhân dân và đất nước chưa lấy gì làm khá giả.v.v…
Tại sao lại có những cảm xúc và thái độ có phần “nhạt” với tết? Nhìn trên bề mặt, chẳng khó để nhận ra những nguyên do này.
(i) Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường với dòng công việc liên tục. Nghỉ dài thì công việc sản xuất, kinh doanh, với những lợi lộc bị đình lại và với không ít người, những nỗi lo bươn chải mưu sinh trong kinh tế thị trường khiến nhiều người không có tâm trạng nhiều cho tết.
Trong khi đó, gọi là 3 ngày tết (30, Mồng 1, Mồng 2) nhưng từ khi rục rịch nghỉ tết đến lúc làm việc bình thường trở lại, người Việt mất độ một tháng dành cho Tết. Hết tết là lại du xuân “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, là mừng xuân mới. Với văn minh nông nghiệp mùa vụ, tết mang ý nghĩa nhiều hơn, vì đó là một sự giãn ra, một sự nghỉ ngơi, nhưng với thời buổi công nghiệp hóa, thời đại tin học thì quả là điều đáng nói. Lúc người Việt nghỉ vui tết, thì hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn vẫn hành công việc bình thường. Nhưng trong quan hệ với ta, họ bị gián đoạn do ta nghỉ tết. Lúc mà các nước đã vận hành được hơn một tháng của năm mới, thì chúng ta dường như mới bắt đầu.
(ii). Với sự phát triển hiện đại và thuận tiện của giao thông sự đi lại đã trở nên dễ dàng hơn, sự phát triển của các mạng điện thoại khiến cho sự thăm hỏi, giao lưu giữa con người và quê hương cũng thường xuyên hơn chứ không nhất thiết là đến tết mới hạnh ngộ cùng nhau.
(iii). Xu thế truyền thông đa phương tiện, các phương thức truyền tin cập nhật, các hình thức giải trí phong phú tràn ngập quanh ta, buồn cũng hội tụ vui cũng hội tụ liên hoan, hàng tuần, hàng tháng, đâu phải đến tết mới chén chú chén anh, mới làm bữa thịnh soạn.
(iv). Bối cảnh hội nhập, nhiều hoạt động văn hóa tinh thần trong những ngày lễ diễn ra gần như quanh năm, mỗi người trong những cộng đồng mình ít nhiều đã tham gia. Gần tết nguyên đán nhất là Noel và Dương Lịch, chưa kể lùi về trước là những mồng 2/9, 30/4-1/5, Quốc tổ Hùng Vương, 8/3, ngày nghỉ hè.v.v.
Tất cả những cái đó làm người Việt dường như đã chững lại với tết.
Tuy nhiên, đa số ý kiến vẫn ủng hộ cái tết cổ truyền được tạo dựng, giữ gìn từ muôn đời nay. Bởi nhiều người coi đó là tâm thức dân tộc, là hồn ông bà tổ tiên hiện diện, là cái hay đã được khẳng định và tôn vinh, là sự tích tụ, bồi đắp qua hàng nghìn năm của biết bao thế hệ người. Do vậy, Tết có dở nhưng lại đầy cái hay, nếu bỏ đi thì ắt sẽ tiếc nuối. Mà giữ lại thì đương nhiên sẽ có sự biến đổi và cải tiến. Do đó, xu hướng chung hiện nay là làm sao để đón cái tết vừa thiết thực tiết kiệm và an toàn. Đó là mong muốn của nhiều người.
3. Hồn Tết truyền thống trong đời sống hiện đại: sự đổi thay và những nỗi lo đôi khi đã “xưa như trái đất”.
Cái hồn tết là cái “siêu hình”… nhiều khi khó gọi tên và hình dung một cách chính xác, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu văn hóa, bởi đây là một kiểu hình giá trị động chứ không hề đứng im, bất biến. Với ngày xưa, hồn tết hiện diện nơi “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”, là sum nhau quanh cỗ bài tam cúc, là trực nồi bánh chưng xanh bên bếp lửa đỏ đêm khuya…Ngày nay, sự sinh hoạt tết đa dạng hơn nhiều và nên hồn tết có phần nhạt nhưng cũng còn lưu giữ nhiều nét xưa. Cái đọng lại của muôn xưa trong hồn tết hôm nay đó là cái thú sắm tết, chơi cây và chơi hoa cho ngày tết, là xin chữ cầu phúc tài lộc, là chỉnh trang bàn thờ cúng tổ tiên, là thời khắc quần tụ cùng nhau chào đón giao thừa, là trao nhau những lời chúc tốt đẹp năm mới, là mừng tuổi người già và trẻ nhỏ, là đi thăm viếng đền chùa, miếu, nơi thờ tự linh thiêng để bày tỏ lòng thành kính và ngưỡng mộ tiền nhân có công lao với quê hương, đất nước. Những nét văn hóa đó là hồn tết được trao truyền từ muôn xưa đến nay chưa hẳn đã phôi phai và không dễ gì bị đánh mất. Và có một điều rằng, hình như càng đi lên hiện đại, người ta lại có nhu cầu tìm về và phục dựng cái truyền thống, bởi chỉ có thế mới níu giữ được kí ức dân tộc, mới thấy thiêng liêng hơn trong đời sống trần tục hưởng thụ văn minh vật chất hôm nay.
Tuy nhiên, trong thời kì mới, sự sinh hoạt tết cũng theo trào lưu chung của sự vận động xã hội và những nhu cầu cá nhân mới. Đối với nhiều người hiện nay, tết không hẳn là dịp trở về quê, hay ăn tết tại gia mà là dịp để thực hiện những chuyến đi ngắn: đi du lịch, đi nghỉ, khám phá những vùng đất mới, đi cầu may, đi thăm giao lưu bè bạn nơi xa, đi trong nước và đi ra cả nước ngoài…. Hình như đó cũng đã trở thành một cách thức/xu hướng thưởng thức tết của người Việt thời hiện đại!
Và điều này, nhiều người không nói ra nhưng mọi người dễ chấp nhận với nhau đó là tết - dịp để đi hành lễ nhà thờ, chùa, đền miếu, cầu lộc, cầu may cho năm mới…đây là điều thuộc về đời sống tâm linh mà con người hiện đại trong cuộc sống đầy áp lực quanh năm cho công việc rất cần được thõa mãn, và tết Cả là dịp thiêng liêng nhất cho thực hành miền tâm tưởng này, nên nhiều người vẫn háo hức nhất với Tết. Từ ngày “lễ tạ” cuối năm của quý bà, quý cô, đến tết ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp), rồi Giao thừa, mồng Một đầu năm mới, ngày du xuân cầu may tiếp sau đó…là một chuỗi các ngày hành lễ cầu may, cầu tài, cầu lộc nằm trong cái gọi là “trường Tết”. Với các chị, các mẹ, du xuân cầu may dường như là hoạt động không thể thiếu mỗi khi tết đến xuân về.
Cái lo nhất đối với nhà quản lí và các cơ quan chức năng, và cũng là cái ái ngại của mỗi gia đình, mỗi người vào dịp tết, mỗi người đó là sự an toàn, an ninh đối với cộng đồng dân cư và các cá nhân. Bởi đó là “cao điểm” của năm về nhiều phương diện, nhất là chu chuyển của con người và hàng hóa. Nước Việt ta hiện 90 triệu người, cứ cho khoảng 1/2 lượng người ấy di chuyển vào dịp tết thì sự di động cơ học là rất lớn và như thế an toàn tàu xe, sự hiểm nguy bất trắc không phải là ít. Cộng với đó là do thói quen bia rượu vào ba ngày tết cũng góp phần làm mất an toàn giao thông. Không ít người đã phải vĩnh viễn giã từ tết vì về tết, chúc tết, du xuân. Không ít người phải tiếc nuối cho những người thân vì không những sự cố do không làm chủ được rượu bia. Do vậy, nên sự an toàn giao thông luôn là sự quan tâm thường trực của con người trong dịp lễ tết.
Còn nữa, nỗi lo về an toàn thực phẩm do hàng hóa tràn lan (hàng giả, hàng nhái…) khó kiểm soát, lo về sức khỏe 3 ngày tết do đi lại, hoặc thay đổi khí trời cũng khiến nhiều người cẩn trọng hơn. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, dịp tết hàng giả hàng nhái, hàng kém phẩm bao giờ cũng nhiều hơn, vì lượng tiêu thụ tăng cao. Nhiều người mua không chỉ dùng mà mua để đi biếu, đi lễ. Nhiều người tranh thủ mua sắm vật dụng gia đình đã dự định bấy lâu sau một năm tích cóp được kha khá tiền.
Dịp tết tội phạm thường gia tăng, chỉ cần sơ sểnh là đã mất của hoặc ít hoặc nhiều. Từ xưa đến nay, nhiều người vẫn nhắc nhau cẩn thận về của cải vào tháng Củ Mật. Từ nỗi lo nhà cửa phải bỏ lại để đi chơi, hay về quê; từ những cung đường tàu xe chen lấn có bọn tội phạm trà trộn; từ những phiên mua sắm đông đúc ngày tết có lừa lọc gian manh…với đủ loại chiêu thức công nghệ cao thời hiện đại. Tết ồn ào, đông đúc, mọi người thường mang nhiều tiền của theo mình để sắm sanh, tiêu dùng ngày tết, bọn tội phạm chỉ chờ sơ sểnh là “chôm của”.
Cái lo nữa là an toàn cháy nổ, nhất là tình trạng buôn bán và sản xuất pháo. Mặc dù, pháo đã là một thứ hàng quốc cấm đã hai chục năm nay (từ NĐ 1994 của Thủ tướng Chính phủ), tuy nhiên, ở đâu đó, vẫn có sự âm thầm sản xuất và buôn báo pháo lậu. Theo thống kê của công an, năm 2013, có gần nghìn vụ bị bắt có liên quan đến pháo. Và không ít vụ nổ và gây chết người do sử dụng pháo.
Với những nỗi lo, sự phiền toái ấy làm tết giảm đi cái vui!
Mấy năm gần đây, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sản xuất kinh doanh ngưng trệ, túi tiền của nhiều người, nhiều nhà gần như trống rỗng. Thời buổi kinh tế khó khăn chồng chất nỗi lo “cơm áo gạo tiền”, không khí tết nơi làng quê, ngõ phố có phần chững lại, những sự lo toan cho tết trở nên thiết thực hơn, phần nhiều không bày vẽ, và cũng chẳng vui làm gì trong khi đất nước khó khăn, lòng người đượm buồn.
 4. Tết với người xa xứ, tha hương.Tuy nhiên, với những người quanh năm đi làm ăn xa, không phải ai cũng có dịp trở về thường xuyên, ngày tết đến, vẫn mong được về quê để quay quần hội tụ, được thắp nén nhang cho ông bà tổ tiên, được kết nối với anh em thân tộc sau một năm bươn chải tha hương, lo toan công việc với đời sống của riêng mình…đó là những mong muốn rất chính đáng và thấm đẫm chiều sâu nhân văn.
Bởi vậy, những người có một miền quê xa, nhất là còn trẻ tuổi, hoặc mới có gia đình và con cái còn nhỏ, 23 tháng Chạp lịch âm, sau khi cúng ông Công, ông Táo nơi mình cư trú là nhiều gia đình rục rịch chuẩn bị về quê. Thường thì nỗi lòng có vui mà nửa có phần ái ngại, bởi mỗi bận đi về thực là một dịp “hành xác”. Sự lích kích mang theo đồ dùng, quà cáp, đi lại phiền toái, nhất là đối với các gia đình ở xa trung tâm, lại có trẻ nhỏ hoặc vợ mang bầu. Nhiều bà vợ miền Bắc, lấy chồng Trung, hoặc vợ miền Nam lấy chồng xứ Bắc, đôi khi nghĩ đến cảnh phải về tết tàu xe chật chội, chen lấn, tất bật, sự an toàn giao thông phố xá đông đúc mà cũng thấy ái ngại, chẳng mấy háo hức. Rồi những “thủ tục” đôi lúc cũng không ít phiền hà bởi phong tục, tập quán, lễ nghĩa đôi khi có phần khuôn sáo, sự khác biệt văn hóa vùng miền…thành ra, với nhiều người nỗi niềm tết không mấy hào hứng trong khi mà hoàn cảnh còn khó khăn, nhiều cái lo cộng gộp, nhưng tết như “đến hẹn lại lên”, như một nghĩa vụ, nhận thức về cái bổn phận của mình cần làm mà trở về…
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, vẫn còn nhiều người vẫn tha thiết được trở về với nơi quê hương trong ngày tết. Nhiều anh em chúng tôi ở Hà Nội đã mười lăm năm nay nhưng năm nào cũng về quê ăn tết, mặc dù đôi khi muốn ở lại cảm nhận cái tết thủ đô cho biết, nhưng tiếng gọi quê hương sâu nặng nghĩa tình nên thường trở về với quê vui tết, đón xuân. Cũng bởi, với nhiều người, xa quê chiều 30 Tết mới cảm nhận được tình yêu quê hương đến cháy lòng, do vậy, dù có khó khăn, đường xá xa cách nhưng nhiều người cũng lặn lội về tết với quê hương để được sống trong cái không khí tình nghĩa gia đình, xóm giềng, thân tộc, để tránh nỗi buồn cô đơn nơi đất khách quê người.
Chẳng phải vì người quê xa xứ, tha phương thường về quê đón tết nên phố phường và nơi trung tâm trong những ngày nghỉ tết thường vắng và thoáng hơn những ngày thường. Chỉ nhìn vào các thành phố lớn như Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh thưa người trong dịp tết, mới thấy sự góp mặt của những người nhập cư, hoặc gốc gác các miền quê lớn nhường nào.
***
Tết cổ truyền là cái tết cả, trong năm 12 cái tết của văn minh nông nghiệp cổ truyền xưa còn lại. Chưa hẳn cái tết cổ truyền còn hợp với nhịp sống người hiện đại, nhưng tết như một “nguyên lí” vận hành đã được mặc định hàng ngàn năm nay, ai có thể bỏ!. Hiện nay, ở các nước Đông Á, Việt Nam, Trung Quốc là vẫn đậm cái tết cổ truyền này. Và với riêng chúng ta- một đất nước mà cái “sự sống” ở nông thôn vẫn chiếm tới 70% dân số, thì tâm thức tết cổ truyền in đậm là lẽ đương nhiên.
Không biết các thế hệ con cháu trong tương lai hàng thập kỉ tới sẽ đối xử như thế nào với cái tết Nguyên Đán dân tộc, điều đó với người hôm nay không quá quan trọng nhưng dẫu sao, với những người yêu nước, tôn sùng giá trị cổ xưa thì vẫn mong con cháu đừng quên cái tết của cha ông bởi trong sâu thẳm, ông cha đã kết tinh trong tết những giá trị văn hóa, những hồn cốt dân tộc. “Tết đến, xuân về” là thời khắc thiêng liêng để làm những điều thiêng liêng, ý nghĩa hơn vạn ngày thường.
Vậy nên, thay vì ca thán tết sự phiền toái, ta chúc nhau sự bình an đón tết. Chúc nhau năm mới tốt lành, tài lộc, ninh khang. Hi vọng tết mãi là một nguồn năng lượng tinh thần cho người Việt để có nhiều động lực hơn trong năm mới và cũng là dịp đễ mỗi người trân trọng những giá trị cha ông.
                            

Tết quê, hồn Việt thời nay (xem tại đây)

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

Lời tác giả: Tôi đã từng là một giảng viên, đã có những năm tháng đi dạy và gắn bó với sinh viên miền núi. Không hiểu sao, tự trong tôi luôn có một tình yêu với vùng miền ấy. Những con người chân thật sống hòa lẫn giữa thiên nhiên, bám lấy cánh rừng, dòng sông, ngọn suối mưu sinh. Cuộc sống luôn bủa vây bởi muôn ngàn khó khăn, cơ hội học tập và phát triển hết sức gian nan. Song vùng đất ấy, những con người nơi ấy vẫn sống và có một sức sống mạnh mẽ. Họ thật đáng yêu mến và giúp đỡ. Nếu có dịp, mỗi chúng ta hãy hướng lòng về họ, dẫu một chút nhỏ thôi, song nơi ấy họ sẽ thấy ấm lòng hơn.

 

Chập chùng gió, chập chùng mây

Sa Pa phong cảnh tuyết len dày

Thi thoảng cuối Đông trời giăng tuyết

Thấm vẻ u hoài hồn cỏ cây

 

Ai đã từng đến nơi đây

Ngắm cảnh sắc thiên nhiên mỹ lệ này

Có chạnh xót xa người sơn cước

Mong manh áo gió giữa trời mây

 

Tôi xin gửi người manh áo nhỏ

Nỗi lòng thương mến các em thơ

Dẫu chẳng đủ hơi em cần ấm

Vẫn ước mong xuân đến từng giờ!

 

Hà Nội, 1/2015
Phạm Thạch Hoàng

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Mãi nhớ ơn Thầy!

Bài viết về thầy cô đã lâu, nay xin đăng lại trên blog cá nhân. Xin chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam!!!  ThS. Phạm Xuân Hoàng[1]
"Không thầy đố mày làm nên"! Câu ngạn ngữ ấy, thiết nghĩ sẽ là một lời răn dạy cho mãi muôn đời, khi con người tồn tại và cần đến tri thức. Người thầy không phải chỉ hiện diện trong mỗi đời ta ở bước đầu của ngày đi học mà nó còn là ở mọi cung đường lập nghiệp, lập thân.
Nhân loại đã vinh danh rất nhiều người thầy. Khổng Tử từng được tôn là chí thánh tiên sư, Mạnh tử được tôn là á thánh. Khổng tử bậc thầy của nhiều nội dung tri thức nhưng nhân loại nhớ Ông nhiều bởi những lời răn về đạo đức làm người. Đó là chữ nhân. Một cách ngắn gọn nhất: nhân là “ái nhân”, tức là thương người.

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Nâng cao vai trò của nhà nước...

Nâng cao vai trò của nhà nước và tổ chức dân sự trong kinh tế thị trường vì sự phát triển con người[i]

[Thạc sĩ, NCS. Phạm Xuân Hoàng, Nguyễn Hà My.
Đăng: Tạp chí Mặt trận, số 132, tháng 10.2014, tr.49-51]

 
Kinh tế thị trường có đồng hành với sự phát triển con người hay không?

Kinh tế thị trường (KTTT) và phát triển con người (PTCN) là hai phạm trù không đồng cấp. Một bên là hoạt động kinh tế, coi trọng chất lượng hiệu quả của phát triển kinh tế; một bên là hoạt động chú trọng vào nâng cao chất lượng con người, chú trọng tính nhân văn, tính người. Tuy nhiên, hai hoạt động này giao thoa với nhau, hỗ trợ cho nhau. Hoạt động KTTT lấy con người làm nguồn lực cơ sở thúc đẩy, lấy mục đích lợi nhuận làm trung tâm; hoạt động PTCN lấy phát triển kinh tế làm phương thức, nền tảng và mục tiêu nhân văn, tiến bộ là đích hướng tới. Do vậy, suy cho cùng hoạt động KTTT là điều kiện, tiền đề của PTCN; PTCN lại là nhân tố không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế.

Nghiên cứu phát triển con người và trách nhiệm của trí thức trẻ đối với phát triển con người

Phạm Xuân Hoàng. Nghiên cứu phát triển con người và trách nhiệm của trí thức trẻ đối với phát triển con người.  Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 8.2014.

Xem Online: http://issi.vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/BaiViet/View_Detail.aspx?ItemID=41

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

CÓ NÊN QUAY TRỞ LẠI ĐÀO TẠO MÔN TRIẾT HỌC RIÊNG BẬC ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở VIỆT NAM [Chuyên san KHXH & NV Nghệ AN, số 10/2014]

Lời tác giả: Có lẽ thời đại hiện nay không ai có thể làm nhà bách khoa, mặc dù tham vọng đó có và trong thực tế có nhiều học giả do tố chất và sự nỗ lực của mình khiến họ có tri thức quảng bác trong nhiều chuyên ngành khoa học. Tuy nhiên, câu chuyện đó không dành cho việc định hình chương trình giảng dạy.
Và nữa, người ta có thể đào tạo ra bác sĩ đa khoa nhưng không thể đào tạo người thầy đa môn, vì khoa học đã phân ngành hẹp và sâu. Trình độ hiện đại đòi hỏi mỗi người phải được chuyên môn hóa.
Hiện nay, vẫn có nhiều người dạy nhiều môn, điều này có nhiều lí do. Môn học "Những nguyên lí của chủ nghĩa Mác- Lênin" là một trong số đó. Môn học này là sự tích hợp nhiều môn, nhưng lợi bất cập hại, vì đã buộc người thầy dạy cái mình hiểu biết chứ không phải cái mình được đào tạo và vô hình chung đã giết chết "Niềm yêu mến Sự thông thái" (Philosophy). Sẽ phải thay đổi nếu khoa học- giáo dục đào tạo hướng tới bản chất đích thực truy tìm chân lí và nếu Việt Nam thực sự đặt mình trong sự hội nhập với thế giới toàn cầu hóa.
Câu hỏi chắc là không hề thừa!

_____________________________________

1. Vài nhận xét về giảng dạy triết học*
và tình hình học tập của sinh viên Việt Nam đối với Triết học.

Xin bắt đầu từ giáo trình Nguyên Lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Theo chương trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo thì từ năm 2009 lại nay, triết học với tư cách là một môn học độc lập trước đây được gộp vào trong môn Những Nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (NNLCB), nội dung phần triết học được giới thiệu trong phần thứ nhất, có tên gọi: "Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin" với dung lượng hơn 170 trang1. Do vậy, môn triết học hiện tồn tại nhiều trong ý niệm hơn là thực tế, mặc dù thực tế trong chương trình những nguyên lý cơ bản nói trên đã gói gọn phần kiến thức triết học trong các giáo trình trước đây. Hệ quả của việc nhập chung như vậy là, triết học không còn là triết học nữa. Vì do phải thu hẹp chương trình, phải đáp ứng những yêu cầu không còn dành riêng cho chuyên môn, học thuật, mà theo nhận xét của GS. Nguyễn Trọng Chuẩn (Viện KHXHVN), là hiện nay đang có chủ trương các trường đại học dạy chính trị chứ không phải dạy triết học2; "chương trình học của chúng ta thì khô cứng và y hệt như nhau cho mọi đối tượng thuộc các chuyên ngành khác nhau" và đó là "điều đáng ngại"3